Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 09 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Chiến

Ông Đặng Hồng Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1161/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hữu T, sinh ngày 06/7/1984 tại A, Bình Định; Nơi cư trú: thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; Số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961; có vợ là Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1995 (đã ly hôn); Con có 01 người sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 23/9/2003 bị Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 23/2003/HS-ST; Ngày 18/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 31/2020/HS-ST; Ngày 04/5/2023 bị Công an phường Đ, thị xã A ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPVPHC về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng (Ngày 13/6/2023, đã nộp phạt xong). Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 15/02/2025 và chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Chánh L1, sinh năm 1988; chị Hồ Thị Tâm H, sinh năm 1989; Cùng địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961; Địa chỉ: thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Huỳnh Thanh H1, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 14/02/2025, Trần Hữu T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 77E1-663.12 (xe của T) đi từ nhà ở thôn N, xã N, thị xã A đến xưởng sản xuất đá tinh khiết “Chánh Luân”, địa chỉ số C đường Đ, thuộc thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định do anh Nguyễn Chánh L1 làm chủ để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, Trần Hữu T dựng xe mô tô tại cổng chào thôn H, xã N cách xưởng “Chánh Luân” khoảng 30 mét rồi đi bộ đến trước xưởng thì thấy cửa ngoài còn khóa nên lấy xe mô tô điều khiển đến quán cà phê “Bảo Vy” ở khu vực T, phường Đ, thị xã A. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô quay lại xưởng “Chánh Luân” thấy xưởng đã mở cửa và nhân viên đang vận hành máy sản xuất đá. Lúc này, Trần Hữu T dựng xe mô tô ở vị trí ban đầu rồi giả vờ đi bộ tập thể dục xung quanh khu vực xưởng “Chánh Luân” để quan sát. Khi thấy nhân viên của xưởng “Chánh Luân” điều khiển xe đi giao đá, không khóa cửa trước, T liền đột nhập vào trong buồng ngủ ở phía sau xưởng “Chánh Luân” lục lấy 01 bì nhựa bên trong có số tiền 14.500.000 đồng được cất dưới tấm nệm và lấy 01 ví da màu nâu bên trong có một số giấy tờ tuỳ thân mang tên Nguyễn Chánh L1 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Về nhà, Trần Hữu T lấy tiền tiêu xài cá nhân, riêng ví da đựng các giấy tờ tuỳ thân của anh L1 được T cất giấu tại nhà.

Ngày 15/02/2025, Công an xã N tiến hành triệu tập, làm việc thì Trần Hữu T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời giao nộp số tiền còn lại 393.000 đồng và 01 ví da màu nâu bên trong có các giấy tờ tùy thân của anh L1.

Ngày 28/02/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A có Bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐGTS, kết luận: 01 ví da màu nâu (đã qua sử dụng) tại thời điểm bị xâm phạm trị giá 20.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSAN ngày 24 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố bị cáo Trần Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu T từ 09 đến 12 tháng tù;

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền bồi thường 10.000.000đ của gia đình Trần Hữu T và có đơn bãi nại, không yêu cầu gì khác, nên miễn xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên:

  • + Lưu hồ sơ: 01 thẻ nhớ Micro bên trong lưu trữ 02 đoạn video thể hiện quá trình Trần Hữu T đột nhập vào xưởng sản xuất đá tinh khuyết “Chánh Luân” trộm cắp tài sản do bị hại Nguyễn Chánh L1 giao nộp; 01 thẻ nhớ Micro bên trong lưu trữ 04 đoạn video thể hiện quá trình Trần Hữu T nắm tình hình và đột nhập vào xưởng sản xuất đá tinh khuyết “Chánh Luân”.
  • + Trả lại cho bị hại số tiền 393.000 đồng.
  • + Trả cho bị cáo 01 điện thoại Xiaomi, loại Redmi 13C, màu xanh dương, dung lượng: 128 GB, số sê ri: WWWSZLHMZ5FAZXWS (đã qua sử dụng).
  • + Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu: đỏ - đen - trắng, số khung: RLHJF6311KZ050916, số máy: JF63E2660760, biển kiến soát 77E1-663.12;
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 quần kaki dài màu kem; 01 áo khoác dài tay màu xám; 01 đôi dép nhựa màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu đen.

Bị cáo Trần Hữu T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội bản cáo trạng đã truy tố, ăn năn, hối cải về hành vi của mình. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Chánh L1, chị Hồ Thị Tâm H và người làm chứng anh Huỳnh Thanh H1 vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra họ đã cung cấp lời khai và yêu cầu. Anh L1, chị H đã nhận lại tài sản và có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự. Xét, sự vắng mặt của họ không làm trở ngại cho việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: khoảng 05 giờ 30 phút ngày 14/02/2025, bị cáo Trần Hữu T đột nhập vào xưởng chế biến đá tinh khuyết “Chánh Luân” tại số C đường Đ, thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định của anh Nguyễn Chánh L1, lén lút chiếm đoạt số tiền 14.500.000 đồng và 01 ví da màu nâu bên trong có các giấy tờ tùy thân của anh L1, trị giá 20.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 14.520.000 đồng nên hành vi của bị cáo Trần Hữu T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo Trần Hữu T là có căn cứ.

[4] Là công dân có đầy đủ sức khỏe và năng lực điều khiển hành vi, ý thức được tài sản hợp pháp của người khác luôn được Nhà nước quan tâm bảo vệ và nghiêm trị những ai có hành vi xâm hại trái pháp luật. Nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu cá nhân, bị cáo Trần Hữu T lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người bị hại rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống bình thường của xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Bị cáo Trần Hữu T được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; tác động gia đình bồi thường thiệt hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Bị cáo Trần Hữu T có nhân thân xấu, đã 02 lần bị đưa ra xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản”.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại ví da đựng các giấy tờ tuỳ thân và số tiền bồi thường 10.000.000đ của gia đình Trần Hữu T, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên miễn xét.

[7] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T1 (mẹ của bị cáo) không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại, nên ghi nhận và miễn xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[8.1] 01 quần kaki dài màu kem; 01 áo khoác dài tay màu xám; 01 đôi dép nhựa màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu đen là trang phục bị cáo mặc khi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[8.2] 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu: đỏ - đen - trắng, số khung: RLHJF6311KZ050916, số máy: JF63E2660760, biển kiểm soát 77E1-663.12; 01 điện thoại Xiaomi, loại Redmi 13C, màu xanh dương, dung lượng: 128 GB, số sê ri: WWWSZLHMZ5FAZXWS (dùng để chiếu sáng khi đột nhập vào xưởng) là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8.3] Số tiền 393.000 đồng là tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại nên tuyên trả lại cho bị hại.

[8.4] Lưu hồ sơ: 01 thẻ nhớ Micro bên trong lưu trữ 02 đoạn video thể hiện quá trình Trần Hữu T đột nhập vào xưởng sản xuất đá tinh khuyết “Chánh Luân” trộm cắp tài sản do bị hại Nguyễn Chánh L1 giao nộp; 01 thẻ nhớ Micro bên trong lưu trữ 04 đoạn video thể hiện quá trình Trần Hữu T nắm tình hình và đột nhập vào xưởng sản xuất đá tinh khuyết “Chánh Luân”.

[9] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 106, 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Hữu T 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2025.
  3. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu, tiêu hủy: 01 quần kaki dài màu kem; 01 áo khoác dài tay màu xám; 01 đôi dép nhựa màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu đen.
    2. T2 trả cho anh Nguyễn Chánh L1, chị Hồ Thị Tâm H số tiền 393.000 (ba trăm chín mươi ba nghìn) đồng;
    3. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu: đỏ - đen - trắng, số khung: RLHJF6311KZ050916, số máy: JF63E2660760, biển kiểm soát 77E1-663.12; 01 điện thoại Xiaomi, loại Redmi 13C, màu xanh dương, dung lượng: 128 GB, số sê ri: WWWSZLHMZ5FAZXWS;

      (Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2025 và Giấy nộp tiền mặt ngày 15/5/2025)

    4. Lưu hồ sơ vụ án: 01 thẻ nhớ Micro bên trong lưu trữ 02 đoạn video thể hiện quá trình Trần Hữu T đột nhập vào xưởng sản xuất đá tinh khuyết “Chánh Luân” trộm cắp tài sản do bị hại Nguyễn Chánh L1 giao nộp; 01 thẻ nhớ Micro bên trong lưu trữ 04 đoạn video thể hiện quá trình Trần Hữu T nắm tình hình và đột nhập vào xưởng sản xuất đá tinh khuyết “Chánh Luân”.
  4. Về án phí: Bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TX. An Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - Công an tỉnh Bình Định;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ái Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger