Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 08 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Hưng và ông Nguyễn Giang Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trình – Kiểm sát viên

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với:

* Bị cáo: Tô Duy D, sinh năm 1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ I, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: Số nhà G, đường số E, tổ B khu đô thị T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Viên chức; con ông Tô Mạnh L (đã chết) và bà Trần Thị D1; Có vợ là Nguyễn Thị Thanh D2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12, sau đó lao động tự do. Từ năm 2006 đến tháng 01/2010 lao động tự do tại thành phố Hà Nội. Từ tháng 01/2010 đến tháng 10/2010 làm việc tại Công ty cổ phần X tại thành phố Hà Nội. Từ tháng 10/2010 đến năm 2013 làm việc tại Ban Q1 thuộc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T. Từ năm 2013 đến năm 2016 làm việc tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T. Từ năm 2016 đến năm 2021 là trưởng phòng lưu trữ thông tin địa chính Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T. Từ năm 2021 đến tháng 6 năm 2024 là Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Thái Bình. Là đảng viên Đ, bị khai trừ theo Quyết định thi hành kỷ luật số 417-QĐ/HU ngày 01/8/2024 của Huyện ủy Kiến Xương - Đảng bộ tỉnh T. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến nay, trích xuất có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Thái Bình; Địa chỉ: Khu Q, thị trấn T, huyện K, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Thị P – Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt).
  • - Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  • - Anh Trần Trung H1, sinh năm 1984; Tổ dân phố Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

* Người làm chứng: Chị Vũ Thị L1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn M, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2022, bị cáo Tô Duy D giữ chức vụ Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K được giao nhiệm vụ quản lý, đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; thực hiện việc cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; thực hiện việc đăng ký biến động đối với đất được Nhà nước giao quản lý... trên địa bàn huyện K, tỉnh Thái Bình.

Tháng 3/2022, anh Đỗ Văn H, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình nhận chuyển nhượng thửa đất số 1189 thuộc tờ bản đồ 18 tại thôn T, xã T, huyện K của ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị L2. Ngày 28/3/2022, anh H làm hồ sơ, thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tách thành 02 thửa đất mang tên anh Đỗ Văn H. Quá trình làm hồ sơ, thủ tục, anh H đặt vấn đề nhờ bị cáo Tô Duy D giúp hoàn thiện nhanh hồ sơ, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Bị cáo Tô Duy D đồng ý. Đến ngày 04/4/2022, anh H được cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ555859 thửa đất số 1201, diện tích là 81,4m² và số DĐ555860 thửa đất số 1202, diện tích là 81,2m² thuộc tờ bản đồ số 18 tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình. Cùng ngày, anh H chuyển khoản số tiền 30.000.000 đồng từ tài khoản 103886967888 của mình mở tại Ngân hàng V, chi nhánh T2 đến tài khoản 0211000429868 của bị cáo mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N, với nội dung “chuyển tiền phí L4”.

Tháng 4/2022, anh H góp vốn cùng anh Phạm Duy H2, sinh năm 1985, trú tại CT12, khu đô thị V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội mua thửa đất số 126 thuộc tờ bản đồ số 12 tại thôn Đ, xã V, huyện K, diện tích là 313,4m² của bà Nguyễn Thị D3. Sau khi mua, anh H, anh H2 thống nhất làm hồ sơ, thủ tục tách thửa đất trên thành 03 thửa để anh H2 đứng tên và giao cho anh H làm hồ sơ, thủ tục tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K. Ngày 22/4/2022, anh H nộp hồ sơ xin tách thành 03 thửa và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K. Sau khi nộp hồ sơ, anh H đặt vấn đề nhờ bị cáo D làm nhanh thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị cáo Tô Duy D đồng ý. Ngày 26/4/2022, anh H chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản 103886967888 của mình mở tại Ngân hàng V Chi nhánh T2 đến tài khoản 0211000429868 của bị cáo D mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N nội dung“chuyển tiền trình nhanh lô V”. Ngày 27/4/2022, anh H đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K nhận 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ570614 thửa đất số 1085, số DĐ570615 thửa đất số 1086, số DĐ570616 thửa đất số 1087 thuộc tờ bản đồ số 12 tại thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Ngày 20/7/2022, anh Trần Trung H1, sinh năm 1984; Tổ dân phố Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 80, diện tích 523,4m² và số 81 diện tích 1132,2m² thuộc tờ bản đồ số 16 tại thôn T, xã T, huyện K của bà Phạm Thị H3. Sau khi chuyển nhượng, anh H1 làm hồ sơ, thủ tục xin tách thửa đất số 80 thành 02 thửa đất số 485, 486 mang tên bà Phạm Thị H3 và tách thửa đất số 81 thành 03 thửa đất số 487, 488, 489 mang tên anh Trần Trung H1 và chị Bùi Thị Mỹ L3 (vợ anh H1). Anh H1 nhận làm hồ sơ, thủ tục để xin cấp giấy chứng nhận 05 thửa đất trên. Quá trình làm hồ sơ anh H1 đặt vấn đề nhờ bị cáo D giúp làm nhanh hồ sơ, thủ tục, chi phí làm nhanh sẽ chuyển cho bị cáo sau. Bị cáo D đồng ý. Ngày 03/8/2022, anh H1 được cấp 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên.

Ngày 17/8/2022, anh H1 góp vốn cùng anh Vũ Trường A, sinh năm 1981, trú tại xã Q, huyện K nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 437 thuộc tờ bản đồ số 21, diện tích 618,3m² tại thôn T, xã B, huyện K của ông Bùi Văn P1. Sau khi chuyển nhượng anh H1 và anh A thống nhất để anh H1 làm hồ sơ xin tách thửa đất trên thành 05 thửa và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh A, giao cho anh H1 thực hiện. Ngày 22/8/2022, sau khi nộp hồ sơ, anh H1 đặt vấn đề nhờ bị cáo D giúp, làm nhanh hồ sơ, thủ tục tách thửa và sang tên các thửa đất trên, chi phí sẽ thanh toán sau. Bị cáo D đồng ý. Ngày 31/8/2022, anh H1 nhận được 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.

Ngày 30/8/2022, anh H1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 697 diện tích 800,1m² thuộc tờ bản đồ số 12, địa chỉ tại thôn A, xã T, huyện K của bà Vũ Thị T1. Sau khi mua, anh H1 làm thủ tục xin tách thành 04 thửa số 698, 699, 700, 701 và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Trần Trung H1 và chị Bùi Thị Mỹ L3 (vợ anh H1). Sau khi nộp hồ sơ, anh H1 đặt vấn đề bị cáo D giúp, làm nhanh hồ sơ, thủ tục tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chi phí sẽ thanh toán sau. Bị cáo D đồng ý. Ngày 09/9/2022, anh H1 nhận được 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.

Qua tìm hiểu, anh H1 biết chi phí làm nhanh hồ sơ, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.000.000 đồng/bộ hồ sơ. Ngày 14/9/2022, anh H1 chuyển số tiền 42.000.000 đồng từ tài khoản 102000916516 của mình mở tại Ngân hàng V chi nhánh T2 đến tài khoản 0211000429868 của bị cáo D mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N, với nội dung “chuyen tien 14 lô”.

Như vậy, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bị cáo Tô Duy D đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, nhận của anh Đỗ Văn H số tiền 40.000.000 đồng và của anh Trần Trung H1 số tiền 42.000.000 đồng để thực hiện làm hồ sơ, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của anh H và anh H1.

Cáo trạng số 35/CT-VKSTB ngày 04 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Tô Duy D về tội “Nhận hối lộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 354; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Duy D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
  • + Về xử lý vật chứng:
  • Trả lại cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K các tài sản: 01 case máy tính nhãn hiệu GIPCO, màu đen đã qua sử dụng và 01 case máy tính nhãn hiệu FPT, màu đen đã qua sử dụng.
  • Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 82.000.000 đồng bị cáo D đã khắc phục hậu quả.
  • + Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Đơn tố cáo của anh Đỗ Văn H và của anh Trần Trung H1; Bản sao kê tài khoản 0211000429868 của Tô Duy D mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N chi nhánh T2; Bản sao kê tài khoản số [...] của anh Đỗ Văn H, mở tại Ngân hàng N1 chi nhánh T2; Bản sao kê tài khoản số [...] của anh Trần Trung H1 mở tại Ngân hàng N1 chi nhánh T2; 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất số 1201 và 1202 thuộc tờ bản đồ số 18 tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 03 thửa đất số 1085, 1086 và 1087 thuộc tờ bản đồ số 12 tại thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 05 thửa đất số 610, 611, 612, 613, 614 thuộc tờ bản đồ số 21 tại thôn T, xã B, huyện K; 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 04 thửa đất số 698, 699, 700 và 701 thuộc tờ bản đồ số 12, địa chỉ tại thôn A, xã T, huyện K; 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 485, 488, 489 thuộc tờ bản đồ số 16, địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện K và 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 486, 487 thuộc tờ bản đồ số 16, địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện K; Các hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 19 thửa đất của anh Đỗ Văn H và ông Trần Trung H1 thu giữ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Ngày 04/4/2022, bị cáo Tô Duy D - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao nhận số tiền 30.000.000 đồng; ngày 26/4/2022 nhận số tiền 10.000.000 đồng của anh Đỗ Văn H để làm nhanh hồ sơ, thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất ở xã T và 03 thửa đất ở xã V, huyện K và ngày 14/9/2022 nhận số tiền 42.000.000 đồng của anh Trần Trung H1 để làm nhanh hồ sơ, thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 14 thửa đất ở xã T, T, Bình Định, huyện K. Tổng số tiền Tô Duy D đã nhận 82.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Tô Duy D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Nhận hối lộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự;

Điều 354 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

...

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

...”

Cáo trạng số 35/CT-VKSTB ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Tô Duy D về tội “Nhận hối lộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức làm mất uy tín, giảm lòng tin của nhân dân trong hoạt động quản lý Nhà nước, gây dư luận xấu trên địa bàn. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc nhận tiền của người khác ngoài quy định để thực hiện công vụ theo yêu cầu của người đó là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích kiếm tiền bất chính của mình, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý trước pháp luật, cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có nhân thân tốt; thành khẩn khai báo; bị cáo đã tác động gia đình nộp toàn bộ số tiền 82.000.000 đồng khắc phục hậu quả; quá trình công tác được Chủ tịch UBND tỉnh T, Chủ tịch UBND huyện K tặng nhiều bằng khen, giấy khen; có bố vợ ông Nguyễn Văn D4 là người có công với cách mạng, mẹ vợ bà Nguyễn Thị Q tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 82.000.000 đồng bị cáo D đã khắc phục hậu quả.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 case máy tính nhãn hiệu GIPCO, màu đen đã qua sử dụng và 01 case máy tính nhãn hiệu FPT, màu đen đã qua sử dụng của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cần trả lại các tài sản này cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K.

[5] Về các vấn đề khác: Đối với anh Đỗ Văn H và Trần Trung H1 là người đưa tiền cho bị cáo để làm nhanh thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét thấy, trước khi tội phạm bị phát hiện anh H và anh H1 đã chủ động viết đơn tố giác hành vi nhận hối lộ của bị cáo D gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi đưa hối lộ của anh H, anh H1 không gây nguy hiểm lớn cho xã hội, nên căn cứ khoản 2, Điều 8 và khoản 7, Điều 364 Bộ luật Hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không xử lý là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Duy D5 phạm tội “Nhận hối lộ”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 354; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Duy D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2024;
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự

    Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 82.000.000 đồng bị cáo D đã nộp khắc phục hậu quả tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Trả lại cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Thái Bình: 01 case máy tính nhãn hiệu GIPCO, màu đen đã qua sử dụng và 01 case máy tính nhãn hiệu FPT, màu đen đã qua sử dụng.

    (Vật chứng có đặc điểm mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 05/3/2025).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Tô Duy D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 08/4/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - Ủy ban nhân dân phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về nhận hối lộ

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Nhận hối lộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tô Duy D phạm tội “Nhận hối lộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger