Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST
Ngày: 03/4/2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Thị Bích Liễu;
  • Thẩm phán: Bà Lê Thị Hạng;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Mỵ Châu;
  • Ông Hoàng Văn Dũng-Nguyên giáo viên;
  • Ông Chu Văn Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Long – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 19/02/2025 và Thông báo mở phiên tòa xét xử số: 24/TB-HS ngày 31/3/2025 đối với các bị cáo:

1. Cao Nhượng; Sinh ngày 15/9/2007 (Theo kết luận giám định tại thời điểm phạm tội là 15 tuổi 6 tháng); Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Raglai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao S, sinh năm 1977 (đã chết); Con bà Cao Thị C, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Cao Thanh D; Sinh ngày 12/5/2005; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Raglai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao D1, sinh năm 1973; Con bà Cao Thị T (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/6/2024. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Cao Thanh D: Bà Lê Nhất Yến P, Luật sư – Văn phòng luật sư Lê Văn T1 và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K; Địa chỉ: A N, N, Khánh Hòa. Có mặt.

* Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Cao N: Bà Đàm Thị Thu L, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước; Địa chỉ: Số A H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Cao N:

  • Ông Cao S, sinh năm 1977 (đã chết).
  • Bà Cao Thị C, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị hại: Ông Nguyễn Huỳnh Thanh L1, sinh ngày 15/03/1995; Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • Ông Đào Đức S1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp F, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  • Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ B, xã A, huyện A, tỉnh Gia Lai.
  • Ông Hoàng Đức T2, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn A M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
  • Bà Nguyễn Thị Phương T3, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
  • Ông Cao H, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
  • Ông Mai Hồng T4, sinh năm 2006; Địa chỉ: Thôn Tà Giang 2, xã Thành Sơn, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
  • Bà Cao Thị M, sinh năm 1950; Địa chỉ: Thôn Tà Giang 2, xã Thành Sơn, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
  • Bà Cao Thị C, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn Tà Giang 2, xã Thành Sơn, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
  • Bà Cao Thị T5, sinh năm 1978; Đ chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.

Tất cả người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 24/9/2023, Cao N và Cao Thanh D là bạn bè ở cùng thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa rủ nhau đi tìm ông Hoàng Đức T2 để xin lái máy múc cho ông T2. Khi cả hai đi ngang qua nhà ông Đào Đức S1 ở thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa thì thấy ông Hoàng Đức T2 đang ngồi ăn uống cùng với các ông Đào Đức S1, Nguyễn Huỳnh Thanh L1, Nguyễn Minh Q. N và D đi vào xin ngồi ăn uống cùng thì nhóm ông T2 đồng ý. Trong lúc ngồi ăn uống, N và D có xin ông T2 cho làm việc thì ông T2 thấy cả hai đã say nên nói N và D đi về, ngày mai tới nói chuyện.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, N đi về đến nhà thì không thấy em trai của N nên đã lấy một con dao tự chế dài khoảng 53cm cầm trên tay rồi đi tìm em trai để đưa về nhà ngủ. Khi đi đến quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị Phương T3 thì N gặp ông Nguyễn Huỳnh Thanh L1. Ông L1 nói N đưa dao để ông L1 cất nhưng N không đồng ý. Ông L1 có chửi Nhượng thì N đi bộ về nhà cất dao rồi đi tìm D. Khi đến quán tạp hóa của bà Cao Thị T5 thì N gặp D; N kể lại sự việc bị ông L1 chửi cho D nghe thì D nói N về lấy dao chém ông L1 và D sẽ đi cùng. Nghe vậy N đi về nhà lấy dao thì D đi theo sau. Sau đó, cả hai biết ông L1 đang ở nhà ông S1 nên đến nhà ông S1 thì thấy ông L1 đang ngồi ăn uống cùng với nhóm của ông S1. D đứng ngoài cổng cảnh giới, còn N đi đến chỗ ông L1 đang ngồi, cầm dao bằng tay phải chém 01 nhát trúng vào đầu của ông L1 làm ông L1 ngã xuống bàn. Nhượng chém tiếp nhát thứ hai thì trúng vào đầu gối chân phải và mu bàn tay trái của ông L1. Ông T2 thấy vậy liền xông vào khống chế, vật N ngã xuống đất thì N chống cự nên bị dao cứa vào vùng cổ tay phải; ông Q cũng xông vào nằm đè lên người Nhượng và dùng tay giữ chân của N để N khỏi vùng vẫy. Giằng co được một lúc thì ông T2 lấy được dao từ tay N. Sau đó, ông S1 và ông Vũ Văn L2 (là bạn của ông S1) đã đưa ông L1 đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện K, tỉnh Khánh Hòa, rồi được chuyển đến Bệnh viện Đ1, sau đó chuyển đến Bệnh viện Q1; còn N và D đi bộ về nhà.

Tại Phiếu khám bệnh vào viện ngày 25/9/2023 của Bệnh viện Đ1 xác định Nguyễn Huỳnh Thanh L1 bị: Vết thương vùng chẩm trái dài 15cm, đứt vành tai trái + nứt sọ; vết thương gối phải 04cm; vết thương bàn tay 01cm, vận động các ngón tay được.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 30/GCN-BVQY ngày 20/10/2023 của Bệnh viện Q1 xác định Nguyễn Huỳnh Thanh L1 bị: Vết thương vùng thái dương dài 12cm đứt gần lìa tai trái + vết thương phần mềm cẳng chân phải dài 08cm đã được khâu cầm máu tại Bệnh viện Đ1; Mất liên tục gân chày - chè chân phải; Kết quả chụp CLVT sọ não: Tụ máu, tụ khí dưới màng cứng vùng chẩm bên trái - Vỡ xương hộp sọ vùng thái dương chẩm bên trái.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 733/23KLTTCT – PYKH ngày 17/11/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K kết luận:

  • Kết quả chính: Từ chẩm qua vành tai trái có một vết sẹo kích thước trung bình, tỷ lệ thương tật 02%; Mu tay trái có một vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật 01%; Gối phải có một vết sẹo kích thước trung bình, tỷ lệ thương tật 02%; Tụ máu dưới màng cứng, hiện tại không còn hình ảnh tổn thương trong chẩn đoán hình ảnh, tỷ lệ thương tật 08%; Nứt sọ vùng thái dương chẩm trái, đường nứt 3-5cm, điện não không có ổ tổn thương, tỷ lệ thương tật 15%; Đứt dây chằng chéo trước gối phải, tỷ lệ thương tật 13%; Tổn thương nhánh thần kinh sọ số VII, tỷ lệ thương tật 10%.
  • Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Huỳnh Thanh L1 tại thời điểm giám định là 42%. Thương tích nguy hiểm đến tính mạng.

Tại Bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 259/KLGĐĐT-C09B ngày 27/12/2023 của Phân Viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 12 năm 2023) Cao N có độ tuổi từ 15 năm 09 tháng đến 16 năm 03 tháng.

Tại Bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 5774/KLGĐĐT-C09B ngày 27/9/2024 của Phân Viện kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 9 năm 2024) Cao Thanh D có thể chất đã phát triển hoàn thiện như người đã trưởng thành, các đầu xương đã cốt hóa và liền hoàn toàn vào thân xương. Không đủ cơ sở kết luận chính xác độ tuổi.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSKH-P1 ngày 17/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố các bị cáo Cao N và Cao Thanh D về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giữ nguyên kết luận truy tố các bị cáo Cao N và Cao Thanh D về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao N; Áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Thanh D, tuyên phạt bị cáo Cao N từ 03 đến 04 năm tù; bị cáo Cao Thanh D từ 07 đến 08 năm tù.
  • Luật sư phát biểu lời bào chữa cho bị cáo Cao Thanh D: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo D.
  • Trợ giúp viên pháp lý phát biểu lời bào chữa cho bị cáo Cao N: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi nên nhận thức còn hạn chế, bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo N.
  • Bị cáo Cao N có đơn xin xét xử vắng mặt với nội dung đồng ý với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Bị cáo Cao Thanh D khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị cáo Cao N, đại diện hợp pháp của bị cáo N (có đơn xin xét xử vắng mặt), vắng mặt bị hại (có đơn xin xét xử vắng mặt), vắng mặt người làm chứng, xét thấy những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 290, 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của từng bị cáo: Theo cáo trạng truy tố cho thấy, tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Khoảng 21 giờ ngày 24/9/2023, tại nhà của ông Đào Đức S1 ở thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa, Cao N đã dùng dao tự chế chém 02 nhát vào người của ông Nguyễn Huỳnh Thanh L1 (01 nhát trúng vùng đầu gây đứt vành tai trái, nứt sọ vùng thái dương chẩm trái, 01 nhát trúng mu tay trái và gối phải) gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 42%; Cao Thanh D có hành vi xúi giục, giúp sức cho Cao N khi chém ông L1. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo: Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính côn đồ hung hãn, đã trực tiếp xâm phạm đến thân thể, sức khỏe và tính mạng của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương.

[5] Xét về vai trò đồng phạm của từng bị cáo: Các bị cáo thực hiện tội phạm với tính chất là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không bàn bạc trước về cách thức, phân công nhiệm vụ khi đi gây thương tích cho bị hại. Tuy nhiên, bị cáo D là người xúi giục bị cáo N cầm dao chém bị hại trong khi bị cáo N chưa đủ 16 tuổi nên cần áp hình phạt dành cho bị cáo D phải cao hơn bị cáo N.

[6] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo N khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên cần áp dụng mức hình phạt đối với người chưa thành niên quy định tại Điều 101Bộ luật hình sự. Bị cáo D xúi giục người chưa đủ 18 tuổi phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và độ tuổi của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên mức án thấp nhất của khung hình phạt đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội và thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

[8] Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế dài 53cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 37cm, trên lưỡi dao có 03 lỗ thủng đường kính 0,5cm. Cán và lưỡi dao được cố định bằng 01 khung (vòng tròn) kim loại màu vàng đen, đường kính 2,5cm. Vật chứng trên đều được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao N; Căn cứ Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 và Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Thanh D;

[2] Xử phạt:

  • Bị cáo Cao Nhượng 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Bị cáo Cao Thanh D 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/6/2024.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế dài 53cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 37cm, trên lưỡi dao có 03 lỗ thủng đường kính 0,5cm. Cán và lưỡi dao được cố định bằng 01 khung (vòng tròn) kim loại màu vàng đen, đường kính 2,5cm.

Vật chứng trên đều được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[5] Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Cao Thanh D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị cáo Cao N, đại diện hợp pháp của bị cáo N, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

* Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Khánh Hòa;
- Công an tỉnh Khánh Hòa;
- Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
- TAND cấp cao Đà Nẵng;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- Vụ GĐKT1 - TAND tối cao;
- Bị cáo;
- Những người TGTT;
- Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Bùi Thị Bích Liễu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Nhượng + ĐP giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger