TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HS-PT Ngày 28 tháng 02 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Phước Hưng
Các Thẩm phán: bà Phạm Thị Minh Châu và bà Trịnh Ngọc Thúy
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Châu Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 35/2025/TLPT- HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thanh T, sinh năm 1973 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ B, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; trình độ học vấn: 04/12; nghề nghiệp: Làm thuê; cha Trần Văn Đ, sinh năm 1942 (chết), mẹ Phan Thị T1, sinh năm 1948 (chết); vợ Trần Thị T2, sinh năm 1981; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2005. Tiền án: 01 lần về hành vi đánh bạc (Bản án số 11/2022/HS-ST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang).
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Thành T3, Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố C.
Trong vụ án còn có bị cáo khác, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, Nguyễn Văn Ú và Ngô Văn C mang theo bộ dụng cụ lắc T4 – Xỉu vào vườn xoài của ông Nguyễn Văn K thuộc ấp P, xã P, huyện A để tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền. Trên đường đi, Nguyễn Văn Ú rủ Đỗ Văn G Em và gọi điện thoại rủ Hồ Văn T5, Nguyễn Nguyên G1, Huỳnh Hữu L, Trần Văn T6 để tham gia. Sau đó có Trần Thanh T, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Minh H (con ruột Nguyễn Văn Ú), Nguyễn Văn K1, Trần Thanh T (T nhỏ) đến tham gia. Trong đó, Nguyễn Văn Ú là người thủ cái (làm chủ) đánh bạc được thua bằng tiền với những người khác.
Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, Công an xã P đến địa điểm trên bắt quả tang Nguyễn Văn Ú và Nguyễn Văn K1, các đối tượng khác bỏ chạy. Thu giữ tại chiếu bạc 75.000 đồng, trên người Nguyễn Văn Ú 3.000.000 đồng, 01 vỏ bao ghi chữ X, T ở giữa ghi các số 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 03 hột xí ngầu, 01 cái dĩa bằng sứ, 01 nắp nhựa. Qua điều tra xác định được:
Đỗ Văn Gắn E mang theo 60.000 đồng, tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván đặt 20.000 đồng đều thua, còn lại 20.000 đồng. Hồ Văn T5 mang theo 500.000 đồng, tham gia đặt cược khoảng 08 ván, mỗi ván đặt 50.000 đồng đến 100.000 đồng, T5 thua 350.000 đồng, còn lại 150.000 đồng. Nguyễn Nguyên G1 làm người thủ cái lắc để hưởng tiền huê hồng 50%/chén bão. Giáp lắc được 5-6 ván, trong đó có 02 ván bão, được hưởng 50.000 đồng. Trần Thanh T mang theo 120.000 đồng tham gia đặt cược khoảng 04 - 05 ván, mỗi ván đặt cược số tiền từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, T thắng được 50.000 đồng.
Các đối tượng Nguyễn Văn Ú, Nguyễn Minh H, Trần Văn T6, Nguyễn Văn T7, Huỳnh Hữu L, Ngô Văn C đều thừa nhận có tham gia đánh bạc. Riêng Nguyễn Văn K1 và Trần Thanh T (T nhỏ) không tham gia đánh bạc.
Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc, trên người các con bạc và tiền sử dụng vào việc đánh bạc tối 26/4/2024 là 3.525.000 đồng.
Đồng thời xác định được, ngày 23/4/2024 các bị cáo Đỗ Văn Gắn E, Hồ Văn T5, Nguyễn Nguyên G1 đã bị Công an xã P xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép (mỗi người 1.500.000 đồng); Trần Thanh T đã bị xét xử về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong thời gian thử thách nhưng chưa được xóa án tích.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đã quyết định: tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Đánh bạc” và căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thanh T 09 tháng tù. Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/12/2024, bị cáo Trần Thanh T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc phạt tiền với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo hoặc phạt tiền.
Người bào chữa có ý kiến: bị cáo thành khẩn khai báo, an năn hối cải; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền sử dụng đánh bạc không lớn và cũng đã nộp tiền thu lợi do đánh bạc; gia đình bị cáo khó khăn, vợ bị bệnh và bị cáo phải nuôi con bị khuyết tật, nếu bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ làm cho cuộc sống của gia đình bị cáo vô cùng khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng và chuyển hình phạt tiền là hình phạt chính để bị cáo có cơ hội tiếp tục lao động nuôi sống, chăm sóc gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T, xử phạt bị cáo từ 06 đến 07 tháng tù.
Bị cáo Trần Thanh T không bào chữa hoặc tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính để bị cáo có thể lao động nuôi vợ bị bệnh, con bị khuyết tật từ nhỏ, bị cáo là lao động chính do con đang thất nghiệp, không tạo ra thu nhập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Trần Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã mô tả, tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/4/2024 tại ấp P, xã P, huyện A, bị cáo Trần Thanh T đã cùng Hồ Văn T5, Nguyễn Nguyên G1, Huỳnh Hữu L, Trần Văn T6, Trần Thanh T, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Minh H tham gia đánh bạc với tổng số tiền 3.525.000 đồng.
Bị cáo Trần Thanh T đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc vào 2021 và Toà án nhân dân huyện An Phú xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” nhưng chưa được xóa án tích, bị cáo lại thực hiện hành vi đánh bạc nên Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử, tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc” và xử phạt 09 tháng tù theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc phạt tiền, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội.
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết được tham gia đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự, bị xử phạt tương xứng với tính chất, mức hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội cũng như mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa bị cáo xin Hội đồng xét xử áp dụng phạt tiền là hình phạt chính với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nhưng Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo đã bị xử phạt hình chính về hành vi đánh bạc, khi chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện An Phú xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc.
Bị cáo đã bị xử phạt hành chính, bị kết tội về cùng hành vi đánh bạc. Khi xử lý vi phạm của bị cáo, các cơ quan chức năng đã áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, rèn luyện trở thành người có ích cho gia đình, xã hội nhưng chưa hết thời hạn để được coi như chưa bị kết án, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với cùng hành vi, tội danh đã bị xử lý; điều đó cho thấy bị cáo không có khả năng tự cải tạo nên Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không còn tình tiết giảm nhẹ nào chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng và trong giai đoạn phúc thẩm không phát sinh thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo như lời bào chữa của người bào chữa đề nghị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang về giảm cho bị cáo một phần hình phạt tù.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét đến và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo còn phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T xin hưởng án treo hoặc phạt tiền, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thanh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Hưng |
Bản án số 31/2025/HS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 31/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh T và đồng phạm tham gia đánh bạc được thua bằng tiền
