TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HS-PT Ngày 17 – 03 – 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Bùi Thái Hùng. |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Trí Thức. |
| Ông Trần Minh Bắc. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong các ngày 10 và 17 tháng 03 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 218/2024/HSPT ngày 16/12/2024 đối với các bị cáo Đặng Văn C, Nguyễn Trọng H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2024/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Đặng Văn C, sinh năm 1982 tại Thái Bình; nơi đăng ký thường trú: A Chung cư L, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: 16.01 Chung cư D, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Đặng Xuân C1, sinh năm 1945 và bà Vũ Thị T (đã chết); gia định bị cáo có 04 người con, bị cáo là con thứ 4; vợ: Đinh Thị H1, sinh năm 1981, con: 01 con, sinh năm 2009;
Tiền án: không; tiền sự: không.
Bị bắt ngày 27/03/2024, đến ngày 07/5/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp cho bảo lĩnh (có mặt tại phiên tòa).
- Nguyễn Trọng H, sinh năm 1992 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: 2 L, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ sơn nước; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1967; gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con lớn; vợ, con: không;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân: tại Bản án số 82/2017/HSST ngày 11/5/2017, TAND thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 04 tháng 29 ngày tù về tội “Hủy hoại tài sản” (mức hình phạt bằng thời gian tạm giam) (đã đóng án phí ngày 04/8/2017, chấp hành xong bản án).
Bị bắt tạm giữ ngày 03/5/2024, đến ngày 12/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 22/12/2023, sau khi ăn uống với bạn bè, Đặng Văn C đến quán C2, địa chỉ: Căn hộ P, Chung cư D, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để uống cà phê. Sau đó, C có gọi điện thoại rủ Nguyễn Trọng H đến uống cà phê cùng. Nhưng đến 21 giờ 40 cùng ngày, không thấy H đến nên C tính tiền đi bộ về nhà tại Căn hộ S Chung cư D. Khi đi ngang qua quán K1, địa chỉ Căn hộ P Chung cư D (gần quán C2), C thấy bàn ghế xếp ở ngoài hành lang, vướng lối đi chung. Chủng liền đi vào quầy quán K1, khi thấy em Nguyễn Thị Q, sinh năm 2003, là nhân viên quán kem. Chủng chỉ tay vào mặt em Q quát “Mày bước ra đây nói chuyện với tao, mày cất bàn ghế đi, có tin tao dẹp quán hay không?”, em Q nói “Chú nói chuyện tử tế thì cháu nói chuyện không thì cháu không nói chuyện với chú”. Thấy vậy, C liền chửi bới, cầm nắp bình đựng kem bằng inox nhấc lên đập mạnh xuống. Em Q hoảng sợ lùi lại và đi sâu vào phía trong quầy bán hàng, C liền đi theo vào trong quầy, xông đến dùng tay trái dí sát vào vùng cổ, đẩy em Q sát vào tường, C dùng tay phải tát vào mặt em Q 01 cái và nói “Mày láo à”. Em Q bỏ chạy vào trong quán, la lớn để nhờ mọi người giúp đỡ. Chủng đi theo khoảng 03m thì được mọi người can ngăn nên bỏ đi ra ngoài. Tuy nhiên, C không đi về nhà mà quay lại ngồi ở quán cà phê Cổ Mộc . Sau khi vụ việc xảy ra, em Q gọi điện thoại báo vụ việc cho chủ quán kem là ông Trần Trọng H3. Khoảng 10 phút sau, ông H3 cùng vợ là bà Trần Thị Phương L đi đến quán kem, ông H3 hỏi em Q về sự việc, sau đó nói em Lê Quang Minh K, sinh năm 2003, là nhân viên quán kem đến Công an phường trình báo vụ việc.
Sau khi được C gọi điện rủ uống cà phê, H mang theo 01 con dao loại dao gấp, dài khoảng 15cm, để trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô đến quán C3 Khi đến nơi, H thấy C đang liên tục chửi bới những nhân viên quán kem M nên hỏi “có vụ gì vậy anh” thì C nói “anh vừa đụng chuyện đây”. Cùng lúc đó, C quan sát bên quán K1 thấy ông H3 đưa nón bảo hiểm cho em K nên đứng dậy, vẫy tay gọi em K qua để nói chuyện. Em K nhìn về phía Chủng nhưng không qua và ngồi lên xe mô tô để chuẩn bị đi. Chủng tức giận đứng lên, chạy về phía em K để đánh dằn mặt. Thấy vậy, H liền dùng tay trái cầm dao, giấu sau lưng, cùng chạy theo Chủng rượt đuổi em K. Thấy C và H cầm dao chạy về phía mình với thái độ hung hãn, em K hoảng sợ bỏ xe mô tô lại, chạy bộ về phía khu vực Chung cư D B. Chủng và Hoàng R đuổi theo phía sau em K khoảng 15m thì không đuổi kịp nên dừng lại quay về khu vực quán K1. Thấy em K bị C và H cầm dao rượt đuổi, ông H3 vào trong khu vực bếp của quán kem, lấy 01 cây gậy làm bằng inox (dài 108cm, là phần cán của cây lau nhà bị gãy) đi ra cửa quán K1 đứng. Khi C và H vừa quay về đến quán K1 thì thấy ông H3, C nói “ô thằng kia mày định đánh tao à, đây mày đập đi”. Ông H3 không nói gì mà cầm gậy lùi lại thủ thế, C và H cùng xông vào tấn công ông H3, C nắm lấy cây gậy inox, ghì cổ ông H3 xuống đất và đấm liên tiếp vào mặt ông H3, H lao vào giằng co cây gậy với ông H3, ông H3 vùng vẫy, dùng tay đánh lại Chủng. Còn H lao vào giằng co cây gậy với ông H3. Trong lúc giằng co, H sử dụng con dao đâm ông H3 02 nhát (01 nhát trúng vào má phải; 01 nhát trúng vào bên phải cổ) gây thương tích. Sau đó, C và H được mọi người can ngăn nên dừng tay, H bỏ đi nơi khác, ông H3 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện V.
Tại biên bản họp ngày 25/12/2023 của UBND phường N, thành phố V (BL108), đánh giá vụ việc nêu trên và kết luận:
“Thời điểm xảy ra vụ việc vào khoảng 22 giờ ngày 22/12/2023, tại Chung cư D, phường N có nhiều người qua lại, là khu vực đông người cư trú. Sự việc xảy ra gây mất an ninh trật tự tại khu vực trên, ảnh hưởng đến người dân sống quanh khu vực và người đi đường.
Các đối tượng rượt đuổi, sử dụng hung khí để gây thương tích có thể gây nguy hiểm cho người đi đường và người xung quanh. Hậu quả làm anh H3 bị nhiều vết thương trên cơ thể phải điều trị tại Bệnh viện. Đây là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.
Khu vực Chung cư D, phường N, thành phố V là khu vực công cộng, tập trung đông dân cư, các hộ kinh doanh, buôn bán; hành vi của các đối tượng đã được một số người dân can ngăn nhưng chưa dừng lại mà vẫn tiếp diễn; vụ việc gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương cũng như ảnh hưởng đến việc kinh doanh, buôn bán của các hộ dân tại sân Block A Chung cư D.
Căn cứ vào các ý kiến đánh giá của các thành viên tham gia cuộc họp, các thành viên tham dự thống nhất kết luận đồng ý đây là sự việc nghiêm trọng gây mất an ninh trật tự tại khu vực công cộng làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của nhân dân sinh sống xung quanh khu vực trên”.
Tại Bản kết luận giám định số 23/KLTTCT ngày 22/01/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B kết luận đối với thương tích của ông Trần Trọng H3 trong vụ việc như sau:
- Bệnh án ngày 22/12/2023 ghi nhận:
- 01 (một) vết thương dưới góc hàm phải, dài 3cm, sâu (ba), bờ sắc gọn.
- 01 vết thương má phải dài 3cm sâu, bờ sắc gọn.
- Các kết quả chính (kết quả khám giám định):
- 01 sẹo nhỏ vùng mặt.
- 01 sẹo nhỏ vùng cổ.
- Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Trọng H3 tại thời điểm giám định là 05%.
- Đặc điểm gây ra thương tích: Các thương tích của nạn nhân có thể được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc hoặc vật cứng sắc nhọn, tác động với lực mạnh vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ phải sang trái.
Đối với hành vi “Cố ý gây thương tích”: Căn cứ kết quả điều tra vụ án xác định Đặng Văn C đồng phạm với Nguyễn Trọng H trong việc sử dụng hung khí đâm ông Trần Trọng H3 gây thương tích 5% và bị hại có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 07/3/2024 cơ quan CSĐT ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đặng Văn C về hành vi “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”. Riêng Nguyễn Trọng H do đang bỏ trốn, chưa làm việc được nên chưa ra Quyết định khởi tố bị can. Đến ngày 23/4/2024, bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên ngày 06/5/2024 cơ quan CSĐT ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với Đặng Văn C và Nguyễn Trọng H về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 03/5/2024, Nguyễn Trọng H đã đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi, sự việc liên quan. Quá trình điều tra, truy tố, Đặng Văn C và Nguyễn Trọng H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, công nhận kết quả giám định. Lời khai của 02 bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2024/HSST ngày 12/8/2024, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn C và Nguyễn Trọng H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm d Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Đặng Văn C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024 đến ngày 07/5/2024;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm d Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 03/5/2024 đến ngày 12/5/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 13/8/2024, các bị cáo Đặng Văn C, Nguyễn Trọng H kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã kết án các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tuyên phạt các bị cáo với các mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Cụ thể, việc bị cáo Đặng Văn C và Nguyễn Trọng H có bồi thường thiệt hại cho anh Trần Trọng H3 sau khi gây thương tích cho anh H3 là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cũng như tình tiết tăng nặng “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự chỉ được xem xét áp dụng đối với tội danh “Cố ý gây thương tích” nếu có. Trong vụ án này, do anh H3 đã rút yêu cầu khởi tố vụ án nên hành vi “Cố ý gây thương tích” của hai bị cáo C và H đã được đình chỉ theo quy định nên việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên đều chưa phù hợp.
Về kháng cáo của các bị cáo xin hưởng án treo thì thấy rằng, bị cáo Nguyễn Trọng H có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm gương mà tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật nên không có căn cứ để cho hưởng án treo. Đối với bị cáo Đặng Văn C phạm tội lần đầu, là lao động chính trong gia đình, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm chứng cứ mới là có thời gian phục vụ trong quân đội, bố Đặng Xuân C1 có Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, mẹ Vũ Thị T là cựu chiến binh có huy chương kháng chiến hạng nhất, đây là tình tiết mới chưa được xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn C, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
Các bị cáo không tham gia tranh luận. Nói lời sau cùng, các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: đơn kháng cáo của các bị cáo được làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể, hình thức và nội dung kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung:
- Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 22/12/2023, sau khi ăn nhậu với bạn bè, Đặng Văn C rủ Nguyễn Trọng H đến quán C2 tại tầng trệt Chung cư D, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu uống cà phê. Đợi lâu không thấy H đến nên C đi bộ về nhà mình. Khi đi qua quán K1 (cạnh quán C2), C có xích mích, chửi bới, tát em Nguyễn Thị Q - nhân viên quán kem về việc sắp xếp bàn ghế vướng lối đi chung. Được người dân can ngăn nên C quay về ngồi ở quán cà phê Cổ Mộc .
Sau khi vụ việc xảy ra, em Q đã gọi điện thoại báo cho chủ quán kem là ông Trần Trọng H3 nên ông H3 nói em Lê Quang Minh K - nhân viên quán kem đến Công an phường trình báo.
Khoảng 22 giờ, Nguyễn Trọng H đến quán C3 Khi đến nơi, do vẫn tức giận với nhân viên quán kem nên C và H (cầm theo con dao, loại dao gọt trái cây dài khoảng 15cm) tiếp tục gây gỗ, rượt đánh em K nhưng không được nên quay lại tấn công anh Trần Trọng H3 gây thương tích.
Hành vi nêu trên của các bị cáo gây náo loạn cả khu phố, làm mất an ninh trật tự tại khu vực, ảnh hưởng xấu đến người dân sống xung quanh và người đi đường nên đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Căn cứ vào hung khí các bị cáo sử dụng, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với vết thương 5% gây ra cho anh Nguyễn Trọng H do anh H đã rút yêu cầu khởi tố nên các bị cáo không bị xem xét xử lý hình sự tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến an ninh, trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân sống quanh khu vực và người đi đường mà còn gây ra thương tích cho người khác nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Khi xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm còn có sự nhầm lẫn, áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “Bồi thường thiệt hại” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết tăng nặng là “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đều không chính xác vì khách thể bị xâm phạm của tội danh “Gây rối trật tự công cộng” là trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Chỉ có thể áp dụng 02 tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên nếu các bị cáo bị khởi tố thêm về hành vi “Cố ý gây thương tích” đối với bị hại anh Trần Trọng H3 nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần sửa Bản án sơ thẩm về nội dung này.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Trọng H có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử một lần về tội danh “Hủy hoại tài sản” nhưng không lấy đó làm gương, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội mà tiếp tục có hành vi phá phách, gây ảnh hưởng đến trật tự, an ninh và sức khỏe của người khác nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Bị cáo Đặng Văn C có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm tài liệu mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét như gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo đã từng phục vụ trong quân ngũ, bố bị cáo là ông Đặng Xuân C1 có Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, mẹ bị cáo là bà Vũ Thị T có huy chương kháng chiến hạng nhất. Với các tình tiết nêu trên và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy việc giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bị cáo Đặng Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Trọng H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 36/2035/UBTVQH14 ngày 30/12/2035 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.
- Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn C, Nguyễn Trọng H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
- Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2024/HS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về hình phạt đối với bị cáo;
Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; các điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến ngày 12/5/2024;
- Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn C, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2024/HS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo;
Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Đặng Văn C 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đặng Văn C cho chính quyền địa phương là UBND phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự;
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, nếu phạm tội trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/03/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Bùi Thái Hùng |
Bản án số 31/2025/HS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 31/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn C và ĐP - Gây rối trật tự công cộng
