Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 31/2025/HS-PT

Ngày: 16/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Quốc

Các Thẩm phán:

Bà Hồ Thị Tuyết Phương

Bà Huỳnh Thị Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Huỳnh Thị M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thị M, sinh ngày 01/01/1971 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở: Ấp A, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: bán cà phê; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn C (C) và bà Phạm Thị Đ (C); Chồng: Nguyễn Việt H, sinh năm 1991 (đã ly hôn năm 2022). Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/9/2024 đến nay.

Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/8/2024, Phòng C1 Công an thành phố C phối hợp Công an huyện C kiểm tra hành chính quán cà phê P (quán C2) tại ấp A, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, phát hiện Huỳnh Thị M và Nguyễn Thị X có liên quan đến việc mua bán số đề, lực lượng chức năng đã lập biên bản đồng thời thu giữ: 01 điện thoại di động Vivo 1906, màu xanh đen số IMEI 1: 860749057295793, IMEI 2: 860749057295785 gắn sim số 0901210447; 01 điện thoại di động Vivo Y16 màu vàng, kiểu máy V2204, gắn sim số 0905128221; tiền Việt Nam 5.135.000 đồng; 02 quyển tập học sinh ngoài bìa có chữ Campus; 01 cây viết mực đỏ (tạm giữ của Huỳnh Thị M); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, số IMEI: 863601044841170; tiền Việt Nam 6.250.000 đồng (tạm giữ của Nguyễn Thị X). Ngày 21/10/2024 Huỳnh Thị M giao nộp 5.383.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

Quá trình điều tra xác định, Huỳnh Thị M hoạt động ghi bán số đề từ tháng 4/2024, được khoảng 15 ngày thì nghỉ. Đến khoảng đầu tháng 8/2024, M tiếp tục ghi bán số đề đến ngày 19/8/2024 thì bị bắt. Hàng ngày, M đi đến quán C2 thuộc ấp A, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ (bán cà phê thuê cho P1 không rõ họ tên địa chỉ), nếu ai mua số đề thi M bán trực tiếp và ghi vào tập học sinh. Ngoài ra, M còn sử dụng điện thoại di dộng nhãn hiệu Vivo 1906, màu xanh đen, số IMEI 1: 860749057295793, IMEI 2: 860749057295785, gắn sim số 0901210447 đăng ký tài khoản Zalo tên “Thu Thảo” để nhận tin nhắn số đề.

Sau khi bán số đề xong, M tổng hợp vào tập học sinh và dùng điện thoại di động chụp hình gởi cho Huỳnh Văn Ú có tài khoản Zalo tên “A Phụng S” ở ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ để hưởng hoa hồng 17% trên tổng số tiền bán được đối với lô A, B 02 con số và 03 con số; đối với bao lô 02 con số, 03 con số và số đá M được hưởng 500 đồng/lô. Sau khi có kết quả xổ số, Ú là người tính tiền thắng thua và hẹn 08 giờ của ngày hôm sau gặp nhau tại quán N1 ở thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ để chung chi tiền thắng thua. Tiền mua bán số đề đã chung chi xong, M thu lợi được số tiền 5.383.000 đồng; riêng ngày 19/8/2024, M chưa nhận tiền của những người mua số đề. Các lần mua bán số đề của M cụ thể như sau:

  • - Ngày 19/8/2024, M ghi bán số đề đài Đồng Tháp số tiền là 2.560.000 đồng, đài Thành phố Hồ Chí Minh số tiền là 2.315.000 đồng, đài Cà Mau số tiền là 2.315.000 đồng; trong đó bán cho Lê Văn H1 có tài khoản Zalo tên “Hậu Lê" đài Đồng Tháp, đài Thành phố Hồ Chí Minh và Cà Mau mỗi đài số tiền 1.530.000 đồng; bán cho Nguyễn Thị X có tài khoản Zalo tên “Ngọc N" con số 11 và 21 bao lô mỗi con 5.000 đồng nhưng M chưa xác nhận tin nhắn cho X).
  • - Ngày 18/8/2024, M ghi bán số đề đài Kiên Giang số tiền là 7.040.000 đồng, đài T2 số tiền là 5.340.000 đồng, đài Đ số tiền là 7.600.000 đồng, đài K số tiền là 5.330.000 đồng, đài Kon Tum số tiền là 3.730.000 đồng, đài Thừa Thiên H2 số tiền là 6.930.000 đồng và đài Miền B số tiền là 894.000 đồng; trong đó bán cho Lê Văn H1 đài Tiền Giang số tiền là 460.000 đồng, đài T2 số tiền là 660.000 đồng, đài Đ số tiền là 460.000 đồng tất cả không trúng thưởng; đài Khánh H3 số tiền là 350.000 đồng, trúng thưởng 400.000 đồng; đài Thừa Thiên H2 số tiền là 350.000 đồng, trúng thưởng 400.000 đồng.
  • - Ngày 17/8/2024, M ghi bán số đề đài Hậu Giang số tiền là 2.340.000 đồng, đài L2 số tiền là 4.990.000 đồng, đài Thành phố H số tiền là 2.040.000 đồng, đài B số tiền là 3.240.000 đồng, đài Đ2 số tiền là 3.585.000 đồng, đài Q2 số tiền là 985.000 đồng, đài Đ3 số tiền là 4.945.000 đồng, đài Miền B số tiền là 11.745.000 đồng.
  • - Ngày 16/8/2024, M ghi bán số đề cho Nguyễn Thị X đài Vĩnh L, Trà Vinh và Bình Dương mỗi đài lô A, B con số 61 số tiền 20.000 đồng, đài Miền Bắc số đá con số 77 - 61 với số tiền là 5.000 đồng. Tổng số tiền bán số đề là 350.000 đồng, kết quả X không trúng thưởng.
  • - Ngày 15/8/2024, M ghi bán số đề đài An Giang số tiền là 1.135.000 đồng, đài Tây Ninh số tiền là 915.000 đồng, đài B1 số tiền là 1.375.000 đồng, đài Bình Định số tiền là 660.000 đồng, đài Quảng Trị số tiền là 980.000 đồng, đài Q3 số tiền là 900.000 đồng.
  • - Ngày 13/8/2024, M ghi bán số đề đài Bạc Liêu số tiền là 3.675.000 đồng, đài Bến Tre số tiền là 4.665.000 đồng, đài V1 số tiền là 5.785.000 đồng, đài Đ4 số tiền là 3.375.000 đồng, đài Q4 số tiền là 3.375.000 đồng, đài Miền B số tiền là 1.150.000 đồng.
  • - Ngày 12/8/2024, M ghi bán số đề đài Đồng Tháp số tiền là 5.025.000 đồng, đài Cà Mau số tiền là 3.000.000 đồng, đài Thành phố Hồ Chí Minh số tiền là 4.200.000 đồng, đài Thừa Thiên H2 số tiền là 10.365.000 đồng, đài P2 số tiền là 3.255.000 đồng, đài Miền B số tiền là 1.880.000 đồng.
  • · Ngày 11/8/2024, M bán số đề đài Kiên Giang số tiền là 2.555.000 đồng, đài T2 số tiền là 3.005.000 đồng, đài Đ số tiền là 1.805.000 đồng.
  • Ngày 10/8/2024, M ghi bán số đề đài Hậu Giang số tiền là 1.675.000 đồng, đài L2 số tiền là 975.000 đồng, đài B số tiền là 1.180.000 đồng, đài Thành phố Hồ Chí Minh số tiền là 2.025.000 đồng, đài Đ2 số tiền là 1.545.000 đồng, đài Q2 số tiền là 745.000 đồng, đài Đ3 số tiền là 2.345.000 đồng, đài Miền B số tiền là 1.200.000 đồng.
  • Ngày 09/8/2024, M ghi bán số đề đài Vĩnh Long số tiền là 8.440.000 đồng, đài B2 số tiền là 4.680.000 đồng, đài T3 số tiền là 10.440.000 đồng, đài G1 số tiền là 1.335.000 đồng, đài Ninh Thuận số tiền là 855.000 đồng, đài Miền B số tiền là 1.696.000 đồng.
  • Ngày 04/8/2024: M ghi bán số tiền đài Kiên Giang số tiền là 6.760.000 đồng, đài T2 số tiền là 4.670.000 đồng, đài Đ số tiền là 4.310.000 đồng, đài K số tiền là 7.460.000 đồng, đài Kon Tum số tiền là 7.780.000 đồng, đài Thừa Thiên H2 số tiền là 8.870.000 đồng, đài Miền B số tiền là 368.000 đồng
  • Ngày 03/8/2024, M ghi bán số đề đài Hậu Giang số tiền là 3.290.000 đồng, đài L2 số tiền là 3.005.000 đồng, đài Thành phố H số tiền là 675.000 đồng, đài B số tiền là 5.305.000 đồng, đài Đ2 số tiền là 5.305.000 đồng, đài Q2 số tiền là 9.465,000 đồng, đài Đ3 số tiền là 5.945.000 đồng, đài Miền B số tiền là 6.065.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thị X, Lê Văn H1 số tiền tham gia đánh bạc trong một lần chưa đủ 5.000.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan điều tra ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Huỳnh Văn Ú có tài khoản Zalo “A Phụng S” ở ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ là người Mai giao phơi đề, hiện không có mặt địa phương. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ xử lý sau.

Đối với người tên P1 chủ quán C2 ấp A, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, do không biết được họ tên địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với phần đất của quán C2 là do bà Lê Thị Thu Đ1 làm chủ, bà Đ1 cho P1 ở để trông coi nhà, không biết P1 có cho ai ở chung hay không và cũng không biết người tên M có bán số đề nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà Đ1.

Đối với Võ Thị Lệ Q là chủ quán cà phê Ngọc L1, bà Q không biết việc M mua bán số đề và giao phơi đề nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với số tiền 6.250.000 đồng Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Thị X, quá trình điều tra xác định trong đó có 4.500.000 đồng là của bà Trần Thị Tuyết G cho Nguyễn Thị X đóng hụi dùm bà T.

Đối với điện thoại di động Lê Văn H1 sử dụng để mua số đề đã mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại bản án số 65/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị M phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 02/12/2024, bị cáo Huỳnh Thị M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng người, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định. Mức án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

[2] Tòa án triệu tập hợp lệ bị cáo nhưng bị cáo vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị cáo.

[3] Xem xét và đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo Huỳnh Thị M có hành vi ghi bán số đề từ tháng 4 năm 2024, được khoảng 15 ngày thì bị cáo nghỉ. Đến khoảng đầu tháng 8 năm 2024, bị cáo tiếp tục ghi bán số đề đến ngày 19/8/2024 thì bị bắt. Trong thời gian hoạt động ghi bán số đề, hàng ngày, bị cáo đi đến quán C2 thuộc ấp A, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ để ghi bán số đề trực tiếp các đài M, Miền T1, Miền B khi có người đến mua. Ngoài ra, bị cáo còn sử dụng điện thoại di dộng đăng ký tài khoản Zalo tên “Thu Thảo” để nhận tin nhắn số đề. Sau khi bán số đề xong, bị cáo tổng hợp vào tập học sinh và dùng điện thoại di động chụp hình gởi cho Huỳnh Văn Ú có tài khoản Zalo tên “A Phụng S” để hưởng hoa hồng 17% trên tổng số tiền bán được. Từ đầu tháng 8/2024 đến ngày 19/8/2024, bị cáo bán số đề nhiều lần với số tiền trên 5.000.000 đồng. Bị cáo thu lợi được số tiền 5.383.000 đồng. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Với hành vi trên, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” với tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo với lý do hoàn cảnh gia đình nghèo, thiếu nợ nên xin được hưởng án treo để đi làm thuê trả nợ. Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề là hành vi vi phạm pháp luật, tuy nhiên chỉ vì lòng tham, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài cá nhân, mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, để có tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội nên cần có mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian ăn năn, hối lỗi về hành vi phạm tội của mình mà cải tạo, tu dưỡng, biết sống đặt mình vào khuôn khổ pháp luật đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4.2] Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là đã xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được thêm tình tiết nào mới. Hơn nữa, bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị M. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị M phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. HCM;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan THTT huyện C;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về đánh bạc

  • Số bản án: 31/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị M phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger