Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 31/2025/HS - PT

Ngày 12/6/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Trung Thực.
  2. Ông Hoàng Tuấn Trọng.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu -Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/TLPT - HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXX-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 43/2025/HSPT - QĐ ngày 23/5/2025, do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Đức T, sinh năm 1992; Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: thôn D, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Lê Văn M và con bà Đào Thị H; Vợ là: Lê Thị Thu T1, sinh năm 1997; Có 02 con, con lớn sinh năm 2018 và con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Ngày 05/11/2018, bị Công an huyện G, Thành Phố Hà Nội, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khoẻ của người khác”; Bị tạm giữ ngày 11/8/2024 và tạm giam ngày 17/8/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt).
  2. Lò Thị T2, sinh ngày 17/10/2007; Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: Bản V, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Lò Văn C và con bà Vàng Thị N; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ ngày 11/8/2024 và tạm giam ngày 17/8/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo T2: Ông Phạm Đức L, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Văn H1, sinh năm 1998; Nơi thường trú: Tiểu khu A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La (vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị T3, snh năm 2005; trú tại: Thôn X, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Thường L1, sinh năm 1971; trú tại: Thôn I, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đặng Thị L2 mở quán H2 để kinh doanh tại thôn G, xã X, huyện V. Lý là người quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của quán, điều nhân viên phục vụ khách ở từng phòng hát. Do vậy, L2 đã thuê một số nhân viên để phục vụ tại quán trong đó có: Nguyễn Thị T3,, Hoàng Thị T4, Lò Thị T2, Lò Thị D và một số nhân viên khác, nhưng L2 không biết tên, địa chỉ cụ thể. Lý phân công công việc cho các nhân viên như sau: Hoàng Thị T4 (gọi tắt là Hoàng T4) có nhiệm vụ mở phòng hát khi khách đến, mang đồ ăn hoa quả và dọn dẹp phòng hát sau khi khách ra về. Khi L2 không có mặt ở quán thì Hoàng T4 sẽ là người quản lý chung. Hoàng T4 còn được L2 giao nhiệm vụ nếu khách có nhu cầu sử dụng ma tuý thì T4 sẽ đưa khách lên phòng 401 (là phòng chuyên dành cho khách có nhu cầu sử dụng ma túy). Số nhân viên còn lại sẽ được L2 giao nhiệm vụ là rót bia, bấm bài hát và hát cùng với khách; nếu khách gọi thêm đồ ăn, đồ uống thì xuống tầng 1 để lấy mang lên cho khách. Trường hợp khách có nhu cầu sử dụng ma túy thì L2 sẽ giao cho Nguyễn Thị T3 (gọi tắt là Nguyễn T3), Lò Thị D và Lò Thị T2 sẽ phục vụ riêng. D, T2 và Nguyễn T3 đều biết: khi được L2 giao cho lên phòng 401 để phục vụ khách, tức là khách trong phòng đó có sử dụng ma túy và khi có nhân viên phục vụ khách sử dụng ma túy thì L2 sẽ thu được một khoản tiền cao hơn. Theo thông lệ, nếu khách đến quán để hát mà cần nhân viên phục vụ thì L2 sẽ điều nhân viên lên phục vụ và thu tiền của khách là 200.000 đồng/01 giờ/01 nhân viên (chưa bao gồm tiền giờ hát). Nếu khách muốn vừa hát vừa sử dụng ma túy tại quán thì L2 sẽ thu với giá 300.000 đồng/01 giờ/01 nhân viên (chưa bao gồm tiền giờ hát). Khoảng 14 giờ ngày 10/8/2024, Nguyễn Văn T5 đã liên hệ với Lê Đức T bằng điện thoại của T5 rủ T và M1 đến quán H2 để hát, thì T và M1 đều đồng ý. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T5 và M1 đến quán H2, thì gặp T đã có mặt ở đó. T5 bảo mọi người đi vào trong quán, sau đó T5 bảo Hoàng T4 bố trí cho 01 phòng hát cùng với 03 nhân viên. Thông qua nhóm Z 7 tầng thì Hoàng T4 biết L2 đã điều nhân viên lên phòng 401, nên Hoàng T4 cũng đưa T5, M1 và T lên phòng 401. Khi vào phòng 401 thì T5 nói với T và M1: “Tý nữa xong mỗi anh em hỗ trợ cho anh 1.000.000đ nhé”, (tức là T5 rủ T và M1 mỗi người sẽ phải góp cho T5 1.000.000đồng để mua ma túy, thuê phòng và nhân viên phục vụ việc sử dụng ma túy) thì T và M1 đều đồng ý. Tiếp theo, T5 lại sử dụng điện thoại của mình gọi cho Trần Văn H1 để hỏi mua của H1 01 chỉ ma túy Ke và 03 viên ma túy dạng Kẹo với giá 4.000.000 đồng thì được H1 đồng ý. Khoảng 05 phút sau, D, T2 đi lên phòng 401 ngồi cạnh T5 và T để phục vụ cho T5, T, M1 chuẩn bị sử dụng ma túy. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày thì H1 đến quán và đi lên phòng D, H1 đưa cho T5 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 túi nilon chứa 03 viên ma túy dạng Kẹo (là ma túy tổng hợp) và 02 túi nilon chứa ma túy dạng Ke (là Ketamine). T5 cầm túi ma túy, lấy 03 viên ma túy dạng Kẹo bẻ ra thành 06 phần (mỗi viên bẻ làm 2). T5 sử dụng 01 phần và đưa 4 phần lần lượt cho M1, T, T2, D, mỗi người 1 phần để sử dụng. M1, T, T2 đều đã sử dụng, còn D là không sử dụng mà mang vào trong nhà vệ sinh vứt bỏ. Còn lại 1 phần T5 để ở bàn và chờ khi có nhân viên nữa lên thì sẽ đưa cho sử dụng. Lúc này H1 vẫn ở trong phòng 401, T5 bảo D xuống lấy hộ chiếc đĩa sứ (D biết T5 bảo lấy đĩa sứ lên là để dùng vào việc dầm ma túy sử dụng). D đi xuống khu bếp tầng 1 và bảo Hoàng T4 mang đĩa sứ lên cho T5. Hoàng T4 biết khách ở phòng 401 sử dụng ma túy nên đồng ý và bảo D mang 01 đĩa đựng hoa quả lên phòng 401 trước. Sau đó, Hoàng T4 đi lên tầng 6 của quán là nơi ở của mình lấy 01 túi nilon màu xanh bên trong có 01 chiếc đĩa sứ màu trắng hình bầu dục và 01 chiếc thẻ nhựa màu xanh mang xuống phòng 401 cho T5. Trong khi Hoàng T4 đang lấy đĩa thì T2 đi xuống tầng 1 cũng nói cho Đặng Thị L2 biết việc T5 cùng mọi người đang sử dụng ma túy trên phòng 401, rồi T2 đi lên phòng cùng với mọi người. Trong khi T2 đi lên phòng 401 thì Hoàng T4 đã mang đĩa và thẻ vào phòng đưa cho H1. H1 cầm bật lửa và giấy ăn ở trên bàn, rồi đốt giấy ăn, hơ nóng chiếc đĩa; tiếp đó H1 cầm 01 túi ma túy dạng K ở bàn đổ vào đĩa rồi dùng chiếc thẻ nhựa dầm nhỏ ma túy. Tuy nhiên, do chưa có ống hút để hít ma túy, nên M1 đã lấy 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng từ trong người của mình, cuộn thành 01 ống hút để cho mọi người sử dụng ma túy. Trong khi M1 đang cuộn tờ tiền để làm ống hút thì có Nguyễn T3 đi lên phòng 401 rồi ngồi cạnh M1. Sợ mọi người sử dụng ma túy trong phòng bị phát hiện, nên Hoàng T4 và T2 đã lấy giấy ăn thấm nước, rồi dán lên ô kính ở cửa ra vào, với mục đích không cho người từ bên ngoài nhìn thấy. Sau đó Hoàng T4 đi xuống tầng 1, trong phòng còn có 07 người gồm: T5, M1, T, D, T2, Nguyễn T3 và H1 thì T5 đưa 1/2 viên ma túy dạng K1 còn lại cho M1, M1 cầm 1/2 viên ma túy nói trên đưa lại cho Nguyễn T3 sử dụng. H1 tiếp tục dầm ma túy và dùng thẻ Hoàng T4 đưa cho, kẻ 02 đường cho T5 sử dụng, rồi H1 tiếp tục kẻ mỗi lần 02 đường ma túy đưa lần lượt cho T, M1, Nguyễn T3, D và T2 sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì H1 đi ra khỏi phòng 401. Còn T5, T, M1, T2, D và Nguyễn T3 tiếp tục ngồi hát nghe nhạc. Khoảng 30 phút sau, T5 lại muốn sử dụng ma túy tiếp, nên bảo D lấy đĩa ma túy ra để kẻ ma tuý cho mọi người sử dụng, nhưng D không biết kẻ nên D đã đưa đĩa có đựng ma túy cho T2, để T2 kẻ ma túy cho mọi người sử dụng. Khi T2 cầm chiếc thẻ nhựa kẻ ma túy, thì D dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của T2 bật đèn để soi cho T2 kẻ ma túy. T2 kẻ ma túy mỗi lần 02 đường, lần lượt đưa cho T5, T, M1, Nguyễn T3 và D sử dụng, cuối cùng là T2 cũng sử dụng như mọi người. Sử dụng ma túy xong, thì mọi người tiếp tục hát đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày bị lực lượng Công an huyện V đến kiểm tra. Lý thấy có lực lượng Công an đến nên bảo Hoàng T4 dập cầu dao tắt điện, để báo cho nhân viên trên phòng 401 và khách đang sử dụng ma túy biết. Khi mọi người trong phòng 401 đang sử dụng ma túy thì thấy mất điện, D đã chạy lên tầng 6 để trốn. Lực lượng Công an huyện V đã yêu cầu L2 đưa lên phòng 401 để kiểm tra.

Cùng ngày 10/8/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện V đã tiến hành Test nhanh ma túy đối với các đối tượng nói trên, đồng thời ra Quyết định trưng cầu giám định đối với các mẫu vật thu giữ nghi là ma túy như nêu ở trên. Kết quả test nhanh xác định T5, T, M1, T2 và Nguyễn T3 dương tính với ma túy tổng hợp (AMP và MET); D dương tính với ma túy tổng hợp (AMP); L2 và Hoàng T4 âm tính với ma túy. Tại Bản kết luận giám định số 547/KL-KTHS(MT) ngày 14/8/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, xác định: Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ, thẻ ATM và trong lòng ống hút trong niêm phong ghi ký hiệu M, không xác định được khối lượng, là ma túy loại Ketamine; Chất dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon, màu trắng có đường viền màu đỏ ở miệng túi có kích thước (8,3x13,5)cm, trong niêm phong ghi ký hiệu M có khối lượng là 0,259g, ma túy loại Ketamine; Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 02 túi nilon, màu trắng có viền màu đỏ ở miệng túi trong niêm phong ghi ký hiệu M1, không xác định được khối lượng, là ma túy loại Ketamine; Chất dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon, màu trắng có đường viền màu đỏ ở miệng túi có kích thước (2,5x2,5)cm, trong niêm phong ghi ký hiệu M1 có khối lượng là 0,834g, là ma túy loại Ketamine.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST_ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã tuyên xử các bị cáo Lê Đức T, Lò Thị T2 đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

  • - Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với Lê Đức T.
  • Xử phạt: Lê Đức T 07 năm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2024.
  • - Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Lò Thị T2.
  • Xử phạt: Lò Thị T2 05 năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2024).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với 05 bị cáo khác, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/3/2025 và ngày 10/3/025 bị cáo Lê Đức T và Lò Thị T2 đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 12/6/2025

Bị cáo Lê Đức T rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo và đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.

Bị cáo Lò Thị T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo T2 có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2, xử phạt bị cáo T2 03 năm 09 tháng tù.

Đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên đề nghị HĐXX chấp nhận việc rút yêu cầu kháng cáo của bị cáo T và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lò Thị T2. Giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lò Thị D. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự (đối với bị cáo T2); khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự (đối với bị cáo D). Xử phạt các bị cáo T2 và D từ 03 năm 09 tháng tù đến 04 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo được làm trong thời hạn do pháp luật quy định là hợp pháp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

2. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Đức T đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, không bị ai ép buộc nên được HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T.

3. Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Thị T2: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 10/8/2024, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Tiến M1 và Lê Đức T thống nhất cùng nhau chung tiền mua chất ma túy là 03 viên ma túy dạng Kẹo (là ma túy tổng hợp) và 02 túi nilon chứa ma túy dạng K (là Ketamine) để tổ chức sử dụng cùng với các nhân viên tại quán H2 có địa chỉ tại thôn G, xã X, huyện V do Đặng Thị L2 làm chủ. L2 biết T5, M1, T muốn sử dụng ma túy tại quán của mình, nhưng vì mục đích lợi nhuận nên đã sắp xếp riêng phòng 401 cho các đối tượng trên để sử dụng ma túy, đồng thời L2 điều hành nhân viên là Hoàng Thị T4 dẫn T5, T, M1 lên phòng 401 và Hoàng Thị T4 là người trực tiếp lấy đĩa sứ, thẻ cứng để cho các đối tượng sử dụng ma túy; T5 chia ma túy cho T, M1, T2, D và Nguyễn Thị T3 sử dụng (T2 và D đều dưới 18 tuổi); M1 dùng tiền cuộn thành ống hút ma túy; Lò Thị T2 dùng thẻ cứng để kẻ ma túy cho T5, T, M1, D, Nguyễn Thị T3 sử dụng; Lò Thị D soi đèn pin để T2 kẻ ma túy cho mọi người sử dụng. Khi các đối tượng đang sử dụng ma túy tại quán Karaoke của L2 thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V kiểm tra phát hiện.

Do đó, cơ quan tiến hành tố tụng huyện V đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

4. Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lò Thị T2.

Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; vị trí vai trò, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lò Thị T2 và Lò Thị D tại thời điểm phạm tội đều từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp của người chưa thành niên được công bố ngày 30/11/2024, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt hai bị cáo T2 và D 05 năm tù là cao so với các quy định trên. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo T2 xuất trình đơn trình bày đơn xin giảm nhẹ và có bà nội tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đây là tình tiết giảm nhẹ mới mà bị cáo được hưởng theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lò Thị T2 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2.

Bị cáo Lò Thị D mặc dù không kháng cáo xin giảm nhẹ, nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự thì bị cáo D được giảm nhẹ hình phạt so với hình phạt mà Toà án sơ thẩm đã tuyên.

Quan điểm đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

5. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự (đối với bị cáo T); điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự (đối với bị cáo Lò Thị T2); khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự (đối với bị cáo Lò Thị D); Điều 343, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án (đối với hai bị cáo T, T2).

  1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Đức T.
  2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lò Thị T2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên về phần hình phạt đối với bị cáo Lò Thị T2 và Lò Thị D.
    1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Thị T2, Lò Thị D đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
    2. Về điều luật áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp của người chưa thành niên đối với hai bị cáo Lò Thị T2 và Lò Thị D; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Thị T2.
    3. Xử phạt:
      • - Bị cáo Lò Thị T2 04(bốn) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2024.
      • - Bị cáo Lò Thị D 04(bốn) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2024.
  3. Về án phí: Các bị cáo Lê Đức T và Lò Thị T2 đều không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Trung ThựcHoàng Tuấn TrọngNguyễn Trung Kiên

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND huyện Văn Giang(2);
  • - VKSND huyện Văn Giang;
  • - CA huyện Văn Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Giang;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP, Tòa HС./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS - PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 31/2025/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger