Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 31/2025/HS-PT

Ngày 09-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang

Bà Lê Thị Thu Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:

Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo Trương Văn L, Nguyễn Đức T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Trương Văn L, sinh ngày: 27/01/1968 tại huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Trương Văn K (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1944; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; Con: 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 007555/QĐ-XPHC ngày 23/6/2018 của Công an huyện P, tỉnh Sơn La xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác. Nộp phạt ngày 26/6/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/7/2024. Đến ngày 16/8/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. (Có mặt).

  1. Nguyễn Đức T, sinh ngày: 25/12/1966 tại huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Đức T1, sinh năm 1941; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T2 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968; Con: 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/6/2024, chuyển tạm giam ngày 13/6/2024. Đến ngày 11/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. (Có mặt).

- Ngoài ra còn có 05 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

Bị hại: Cháu Lương Thị Trà M, sinh ngày 16/6/2011. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Người đại diện của bị hại: Anh Lương Đức A sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Bùi Thu H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh P. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2024, cháu Lương Thị Trà M, sinh năm 2011 ở thôn A, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang làm nhân viên rót bia và bấm bài hát thuê tại các quán Karaoke trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Trong thời gian này, cháu M quen biết và có địa chỉ Facebook của Nịnh Quốc T3, sinh năm 2004, ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Triệu làm quản lý 01 nhóm nhân viên nữ tại xã C cho anh Nguyễn Văn T4 sinh năm 1999 ở xã C và anh Lê Tùng Lâm S năm 1994 ở thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Đến giữa tháng 5/2024, cháu M về ở với anh trai là Lương Đức A sinh năm 1994 ở xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Ngày 25/5/2024, cháu M chủ động nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Nịnh Quốc T3 xin làm nhân viên phục vụ quán Karaoke. Nhận được tin nhắn, T3 gọi điện thoại cho anh Nguyễn Anh T5 thông báo cho anh T5 biết việc T3 đi đón nhân viên nhưng không nói cụ thể đi đón ai. Anh T5 đồng ý rồi gọi xe taxi cho T3. Triệu đi xe taxi từ huyện Đ đến xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội đón M rồi quay về phòng trọ của nhóm nhân viên tại khu P, xã C, huyện Đ. Khi về đến nơi, T3 thông báo cho anh T5 về việc đã đón được nhân viên. Anh T5 trả tiền xe taxi hết 1.300.000 đồng, đưa 1.900.000 đồng cho vợ là chị Triệu Huyền T6 sinh năm 2003 địa chỉ ở xã H, huyện Đ đi mua quần áo, mỹ phẩm cho M, tổng là 3.200.000 đồng. Sau đó anh T5 bảo T3 thông báo cho M về nghĩa vụ phải thanh toán số tiền nợ 3.200.000 đồng. M đồng ý.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi ăn cơm anh Lê Tùng L2 cùng là quản lý nhóm nhân viên hỏi M sinh năm bao nhiêu, M nói dối sinh năm 2009. L2 thấy M ít tuổi nên không đồng ý nhận cháu M làm nhân viên. Tuy nhiên sau khi ăn cơm xong, T3 vẫn đưa cháu M đi phục vụ quán Karaoke trên địa bàn huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. T3 nói với M, do ít tuổi nên anh L2 không nhận. M nói không muốn về nhà và nhờ T3 tìm hộ nhóm quản lý nhân viên khác để tiếp tục đi làm. T3 đồng ý và hứa hẹn sẽ tìm cho M nhóm nhân viên khác ở tỉnh Bắc Ninh, M đồng ý. Sau đó, T3 sử dụng điện thoại di động Iphone 7 đăng nhập tài khoản Facebook “Nịnh Quốc T3” và liên hệ qua ứng dụng Mesenger qua tài khoản “D bạc” với Phan Văn D sinh năm 2006 ở xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là người chở nhân viên nữ đi phục vụ tại các quán Karaoke trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Triệu gửi ảnh, gửi vị trí qua ứng dụng Mesenger và thống nhất bán cháu M cho D với giá 5.000.000 đồng.

Sau khi thỏa thuận với T3, D nói chuyện này với quản lý là Trần Đức T7 sinh năm 2000, ở xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, T7 đồng ý cùng D đi lên huyện Đ đón M. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, D và T7 đi xe taxi theo vị trí Triệu gửi đến nhà trọ của nhóm nhân viên tại khu P, xã C. T7 đưa D 5.000.000 đồng, D cầm tiền đi vào nhà trọ đưa cho T3 rồi đón M đi về Bắc Ninh. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 26/5/2024 cả nhóm về đến Bắc Ninh, M được D và T7 đưa đến nghỉ ngơi tại nhà trọ ở khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cùng các nhân viên nữ khác. Số tiền 5.000.000 đồng thu được từ việc bán M cho D và T7, T3 trả cho T5 3.000.000 đồng, số tiền còn lại là 2.000.000 đồng T3 đã chi tiêu cá nhân hết.

Cháu M nghỉ ngơi tại nhà trọ của nhân viên đến ngày 27/5/2024, T7 thấy cháu M không có giấy tờ tuỳ thân, không đăng ký được tạm trú. Lo sợ bị cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý nên T7 bảo D: “Tìm người đẩy con M đi, tầm 30 triệu là được”. D hiểu ý là tìm người để bán cháu M với giá khoảng 30 triệu. D đã sử dụng điện thoại di động Iphone 14 Pro max liên lạc qua ứng dụng zalo với Trương Văn L sinh năm 1968, ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nói với L về việc muốn bán nhân viên giá 36.000.000 đồng và gửi vị trí hiện tại cho L. L đồng ý, hẹn sẽ đón bạn đến gặp D. Do trước đó, Nguyễn Đức T sinh năm 1966, ở thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh là chủ quán Karaoke “Anh em” tại xã L, huyện Y đã liên hệ với L nhờ tìm giúp nhân viên nữ về phục vụ tại quán Karaoke. Vì vậy sau khi trao đổi với D, L sử dụng điện thoại Iphone 7 lắp sim số 0913.369.604 gọi cho T nói: "Có con nhân viên ở ngay đây này, có đi xem không, giá ba mươi sáu triệu?". T hiểu L giới thiệu cho T mua nhân viên nữ để phục vụ tại quán K1 với giá 36.000.000 đồng. T đồng ý đi cùng. L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios biển số 99A-159.58 đến quán bán hàng ăn của gia đình T tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y đón T rồi chở T đến khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, L, T gặp Phan Văn D và cháu M. T đã thoả thuận, thống nhất với D mua cháu M với giá 36.000.000 đồng. D cung cấp cho Tuấn mã QR tài khoản ngân hàng T9 số 19036770130013 của Trần Đức T7. T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Oppo lắp sim số 0325.149.420 vào ứng dụng ngân hàng V và chuyển số tiền 18.000.000 đồng từ tài khoản 104800251266 mở tại ngân hàng V1 đến tài khoản nêu trên. Số tiền còn lại là 18.000.000₫ T đưa cho M để M đưa D. Khi T đưa tiền cho cháu M, L sử dụng điện thoại di động của mình quay lại video sự việc trên thể hiện T cho cháu M vay tiền để trả cho D mục đích để che dấu hành vi mua bán cháu M giữa T và D. Sau khi thanh toán đủ 36.000.000 đồng cho D, T và L đưa cháu M về quán Karaoke "Anh em" của T làm nhân viên rót bia và bấm bài hát thuê. Sau khi mua được cháu M, T đã trả cho L 2.000.000 đồng là tiền công môi giới. Đối với số tiền 18.000.000 đồng mà M đã đưa cho D, D đã đưa cho T7 12.000.000 đồng và nói dối D đã bán cháu M được 30.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T7 đã chia cho D 6.000.000 đồng. Vì vậy qua việc bán cháu M cho T, T7 hưởng lợi 24.000.000 đồng; D hưởng lợi 12.000.000 đồng. Số tiền này T7 và D đã chi tiêu cá nhân hết.

Cháu Lương Thị Trà M làm việc tại tại quán Karaoke “Anh em” với tiền công là 100.000 đồng/01 giờ phục vụ khách hát, tiền khách cho thì M được hưởng. Đến ngày 04/6/2024, L gọi điện thoại cho T nói gia đình cháu M đang đi tìm, phải chuyển M đi chỗ khác. Vì vậy, T bảo nhân viên của mình là Lý Văn X sinh năm 2001, ở thôn C, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang tìm người để bán M với giá 36.000.000 đồng. Sau đó, X sử đụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen của mình đăng nhập vào tài khoản Facebook “Lý Văn X” đăng bài với nội dung chuyển nhượng nhân viên lên nhóm Facebook “Tuyển nhân viên Karaoke – B - Hà Nội” để tìm người mua cháu M. Khoảng 30 phút sau Lò Thị P sinh năm 1999 ở Bản M, huyện T, tỉnh Sơn La đang thuê trọ ở km7, xã C, thành phố L là quản lý nhân viên nữ phục vụ quán Karaoke ở địa bàn thành phố L liên hệ với X bằng số điện thoại đính kèm trên bài viết. Qua nói chuyện X và P thoả thuận việc mua bán cháu M rồi X gửi địa chỉ của quán Karaoke “Anh em” cho P. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, P đi xe taxi cùng người một người đàn ông tên “N” đến quán Karaoke của T tại xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây P, T và X cùng trao đổi thống nhất việc mua bán cháu M với giá 36.000.000 đồng. P sử dụng điện thoại Iphone 12 Pro max lắp sim số 0368512854 đăng nhập ứng dụng Mobie Banking của ngân hàng V2 chuyển 36.000.000 đồng từ tài khoản 1032697285, ngân hàng V2 mang tên Hoàng Thị C đến tài khoản 0812315629 mở tại ngân hàng V3 của X rồi đưa cháu M đi. Sau đó, Lý Văn X đăng nhập ứng dụng Mobie Banking của ngân hàng V3 trên điện thoại di động 6S plus lắp sim số 0942.417.704 (đây là chiếc điện thoại của quán Karaoke T giao cho X quản lý, sử dụng) để chuyển tiền từ tài khoản của mình đến tài khoản 104800251266 của Nguyễn Đức T. Qua việc bán cháu M cho Lò Thị P, Nguyễn Đức T thu được 36.000.000 đồng.

Cháu M được P đưa về thành phố L, tỉnh Lào Cai. Tại đây, M ở phòng trọ cùng nhiều người khác, đều là nhân viên phục vụ rót bia và bấm bài hát thuê do P quản lý. Đến ngày 06/6/2024, Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ đã triệu tập P và đưa cháu M về Cơ quan điều tra làm việc.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P giám định tình dục đối với cháu M. Tại bản Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 21/KLTDTE/TTPY ngày 11/6/2024 Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P kết luận:

“Bộ phận sinh dục của cháu Lương Thị Trà M đầy đủ bộ phận, phát triển bình thường.

Tổn thương bộ phận sinh dục của cháu Lương Thị Trà M: Màng trinh rách cũ ở vị trí 02 giờ, 04 giờ, 09 giờ.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Trên cơ thể của cháu Lương Thị Trà M không có dấu vết thương tích gì.

Trên cơ thể của cháu Lương Thị Trà M không có dấu vết thương tích gì nên không xác định được cơ chế gây thương tích.”

Tại Cơ quan điều tra, Nịnh Quốc T3, Trần Đức T7, Phan Văn D, Nguyễn Đức T, Trương Văn L, Lý Văn X, Lò Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 49/CT - VKSĐH ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Trần Đức Trương, Nịnh Quốc Triệu, Lý Văn X, Lò Thị P, Nguyễn Đức T, Trương Văn L, Phan Văn D về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 151 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nịnh Quốc T3, Trần Đức T7, Phan Văn D, Nguyễn Đức T, Trương Văn L, Lý Văn X, Lò Thị P phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 151, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

+ Xử phạt bị cáo Trương Văn L 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến ngày 16/8/2024.

- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 151, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến ngày 11/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Ngoài ra bản án sơ thẩm nêu trên còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, quyết định về vấn đề dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác.

Nội dung kháng cáo: Các bị cáo Trương Văn L, Nguyễn Đức T đều kháng cáo đề nghị xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn L, giữ nguyên mức hình phạt tù của bản án sơ thẩm, cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định, đơn hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đều khai nhận đã có hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định:

Rạng sáng ngày 25/5/2024, tại khu P, xã C, huyện Đ, Nịnh Quốc T3 sinh năm 2004 ở huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi bán cháu Lương Thị Trà M sinh ngày 16/6/2011 cho Phan Văn D sinh ngày 17/12/2006 ở huyện P, tỉnh Thái Nguyên và Trần Đức T7 sinh năm 2000 ở xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh thu 5.000.000 đồng. Nịnh Quốc T3 được hưởng lợi 2.000.000 đồng. Ngày 27/5/2024, tại khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Trần Đức T7 đã chỉ đạo Phan Văn D tìm người để bán cháu M. D đã liên hệ với Trương Văn L sinh năm 1968 ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; L môi giới cho Nguyễn Đức T sinh năm 1966 ở xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó Phan Văn D đã bán cháu M cho Nguyễn Đức T, thu 36.000.000 đồng. Qua việc mua bán cháu M, Trần Đức T7 hưởng lợi 24.000.000 đồng; Phan Văn D hưởng lợi 12.000.000 đồng; Trương Văn L hưởng lợi tiền công môi giới 2.000.000 đồng. Ngày 04/6/2024 tại xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đức T8 đã chỉ đạo Lý Văn X sinh năm 2001 ở huyện Y, tỉnh Bắc Giang tìm người để bán cháu M. X đã liên hệ với Lò Thị P sinh năm 1999 ở thành phố L, tỉnh Lào Cai rồi cùng T8 trao đổi, thỏa thuận bán M cho P thu 36.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi mua bán người dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của con người.

Vì vậy có cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận các bị cáo phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 151 Bộ luật hình sự.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Do các bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân nên các bị cáo có những hành vi thiếu chuẩn mực, vì động cơ vụ lợi, cùng cố ý thực hiện hành vi mua bán người dưới 16 tuổi, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người dưới 16 tuổi.

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ mức độ phạm tội của các bị cáo, xử phạt nghiêm đối với các bị cáo, nhằm ngăn chặn, phòng ngừa các tội phạm liên quan đến mua bán người đặc biệt là mua bán người dưới 16 tuổi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ em, với mức xử phạt tù đối với các bị cáo là cần thiết. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn.

Xét vai trò của các bị cáo có kháng cáo:

Do trước đó bị cáo T8 đã liên hệ với bị cáo L nhờ tìm giúp nhân viên nữ về phục vụ tại quán Karaoke. Khi biết bị cáo D muốn bán cháu M thì đã giới thiệu cho bị cáo T8, bị cáo T8 đã thỏa thuận thống nhất với bị cáo D về việc mua bán cháu M. Bị cáo L không thỏa thuận về việc mua bán nhưng sau khi bị cáo T8 mua được cháu M, bị cáo T8 đã trả cho bị cáo L 2.000.000 đồng tiền công môi giới. Sau đó bị cáo T8 đã chỉ đạo bị cáo X bán cháu M cho bị cáo P. Như vậy bị cáo L có vai trò là người giúp sức trong việc mua bán cháu M. Bị cáo T8 là người trực tiếp mua bán cháu M.

Bị cáo L phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội, bị cáo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nộp lại số tiền hưởng lợi, tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho cháu M, cháu M có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo L đã nộp đơn kháng cáo kèm theo Biên bản xác nhận tài trợ, khắc phục hậu quả thiên tai, nội dung Trương Văn L đã tài trợ cho Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện H, tỉnh Phú Thọ để hỗ trợ nhân dân bị ảnh hưởng bão số 3 (Y) trên địa bàn huyện, tổng giá trị của khoản tài trợ là: 23.810.000 đ (Hai mươi ba triệu tám trăm mười nghìn đồng). Đây là tình tiết giảm nhẹ mới trong giai đoạn phúc thẩm, cấp sơ thẩm chưa áp dụng, vì vậy được xem xét áp dụng cho bị cáo L. Bị cáo Trương Văn L chỉ có vai trò giúp sức, hưởng lợi số tiền không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tính cực nhất trong việc bồi thường thiệt hại và có tình tiết mới nêu trên, không có tình tiết tăng nặng nào, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh bị cáo có bố đẻ đã chết, có mẹ đẻ già yếu phải chăm sóc, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Trương Văn L khỏi xã hội. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn L, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Giao bị cáo Trương Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo Trương Văn L.

Quá trình điều tra đã thu thập được tài liệu chứng cứ thể hiện bố của bị cáo T8 là người có công với cách mạng, mặc dù trong phần nhận định của bản án sơ thẩm không nêu cụ thể tình tiết nêu trên nhưng cấp sơ thẩm đã nhận định bị cáo T8 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T8, do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo T8 là phù hợp với pháp luật.

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo T8 không cung cấp tài liệu chứng cứ gì mới nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T, giữ nguyên mức hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Đức T.

[4] Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí phúc thẩm:

Kháng cáo của bị cáo Trương Văn L được chấp nhận nên bị cáo Trương Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Trương Văn L.

Về tội danh, Điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 151, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 38, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trương Văn L phạm tội: “Mua bán người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn L 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.

Bị cáo Trương Văn L phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Giao bị cáo Trương Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trương Văn L.

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T. Giữ nguyên quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Nguyễn Đức T.

Về tội danh, Điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 151, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Mua bán người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 33 (Ba mươi ba) tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến ngày 11/7/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đức T.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trương Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - CQ THAHS Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND h. Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND h. Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;
  • - Người đã kháng cáo: Bị cáo Lương, Tuấn;
  • - Chi cục THADS h. Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về mua bán người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 31/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Văn L phạm tội: “Mua bán người dưới 16 tuổi”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger