|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HS-PT Ngày: 03 – 06 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn
Các Thẩm phán: Ông Phùng Văn Định
Bà Châu Minh Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 35/2025/TLPT-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Dương Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cáo có kháng cáo: Dương Văn N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại Bạc Liêu.
Nơi cư trú: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C và Nguyễn Thị D; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 05 tháng 7 năm 2024 đến ngày 14 tháng 7 năm 2024. (Có mặt)
Ngoài ra vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo có hành vi hủy hoại tài sản của người khác, cụ thể như sau:
* Lần thứ 1: Bị cáo mua 01 gói thuốc trừ sâu nhãn hiệu AFUDAN 3GR mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 22 giờ ngày 05 tháng 5 năm 2024, bị cáo pha thuốc và đem đến chuồng heo của bà B và ông P, cho hết vào máng heo, rồi quay về nhà ngủ.
Đến sáng ngày 06 tháng 5 năm 2024, gia đình bà B và ông P ra chuồng heo cho heo ăn thì phát hiện 06 con heo ở chuồng heo bị chết, 03 con còn lại có biểu hiện co giật, nên trình báo đến Công an xã V, huyện P giải quyết.
Đến ngày 05 tháng 7 năm 2024 nhận thấy hành vi của mình không thể che giấu được nên bị cáo đã đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá trị tài sản, kết luận: 06 cá thể heo hơi của bà B, ông P đã chết có tổng trọng lượng 513 kg, có tổng giá trị số tiền 33.174.000đ.
* Lần thứ 2: Khoảng 01 tuần sau khi thuốc heo của bà Đỗ Thị B. Do mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày với gia đình bà T và ông K nên bị cáo đã mua 01 chai thuốc diệt cỏ, nhãn hiệu “Cháy tận gốc”, rồi mang về nhà cất giấu.
Đến khoảng 01 giờ khuya, bị cáo lấy chai thuốc trên pha vào bình phun và mang bình thuốc trên ra mẫu ruộng 05 công trồng 14 liếp bắp của bà T phun trực tiếp vào 04 liếp bắp giáp ranh với mẫu ruộng của bị cáo; khoảng 02 ngày sau, bị cáo tiếp tục phun vào 10 liếp bắp còn lại.
Đến ngày 16 tháng 5 năm 2024, bà T phát hiện diện tích 05 công bắp trái non bị bung đọt, héo lá nên trình báo Công an xã V, huyện P.
Tại biên bản định giá số: 42/BB-HĐDGTS ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá trị tài sản, kết luận: Chi phí sản xuất bắp diện tích 6.199 m², bắp 40 ngày tuổi của ông K, bà T bị huỷ hoại có giá trị bằng số tiền 40.506.173đ.
* Lần thứ 3: sau vụ thứ hai khoảng 01 tháng, cũng do mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày với gia đình ông Ngô Văn T1 nên vào khoảng 19 giờ, bị cáo mang bình phun, đã có pha thuốc diệt cỏ đến 05 công đất trồng lúa của T1 phun thuốc vào rộng lúa của ông T1.
Đến ngày 15 tháng 6 năm 2024, ông T1 đi thăm ruộng thì phát hiện toàn bộ diện tích 05 công ruộng lúa có dấu hiệu bị chết nên đã trình báo Công an xã V, huyện P.
Tại biên bản định giá số: 42/BB-HĐDGTS ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá, đã kết luận: chi phí sản xuất 6.370 m² trồng lúa của ông T1 có giá trị bằng số tiền 9.937.200đ.
* Lần thứ 4: sau vụ thứ ba khoảng 10 ngày, cũng do mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày với ông Lê Văn T2 và bà T3 nên vào khoảng 09 giờ, bị cáo mua 01 chai thuốc diệt cỏ, nhãn hiệu “Cháy tận gốc” mang về nhà cất giấu.
Đến khoảng 03 giờ khuya, bị cáo lấy chai thuốc diệt cỏ trên pha vào bình phun đi đến mẫu ruộng diện tích 05 công của ông T2 và bà T3 phun thuốc trực tiếp vào lúa.
Đến ngày 02 tháng 7 năm 2024, ông T2 đi ra thăm ruộng phát hiện mẫu ruộng 05 công, lúa bị héo lá một đoạn gần 04 công, còn hơn 01 công, nghi ngờ người khác phun thuốc diệt cỏ vào lúa của mình nên trình báo đến Công an xã V, huyện P.
Tại biên bản định giá số: 42/BB-HĐDGTS ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá, đã kết luận: chi phí sản xuất 3.988 m² đất ruộng trồng lúa của chị T3 và anh T2 có giá trị bằng số tiền 6.865.495đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Dương Văn N phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Dương Văn N với mức án 03 (ba) năm tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24 tháng 3 năm 2025 bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo không có ý kiến tranh luận và giữ nguyên kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo thừa nhận bị cáo có hành vi hủy hoại tài sản của nhiều bị hại, với tổng số tiền bị thiệt hại là 90.482.868đ. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với thiệt hại của bị hại, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đầu thú, bị cáo có bà ngoại được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới; đồng thời cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, là đã cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bên cạnh đó, với hành vi của bị cáo đã gây ra nhiều dư luận xấu tại địa phương, làm cho người dân không an tâm với tài sản của mình. Cho nên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Bên cạnh đó, bản án sơ thẩm cần rút kinh nghiệm do bản án thực hiện không đúng theo mẫu và hướng dẫn viết bản án theo quy định tại Nghị quyết, cụ thể: về phần lý lịch của bị cáo không đúng theo thứ tự và phần nội dung bản án không được tóm tắt mà cơ bản theo phần cáo trạng, kể cả dẫn chiếu bút lục.
[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ.
[7] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn N.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Tuyên bố bị cáo Dương Văn N phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Dương Văn N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị bắt để chấp hành hình phạt tù, nhưng có khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 7 năm 2024 đến ngày 14 tháng 7 năm 2024.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Dương Văn N nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.
- Căn cứ vào Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không có liên quan đến kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |
Bản án số 31/2025/HS-PT ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự phúc thẩm (huỷ hoại tài sản)
- Số bản án: 31/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Huỷ hoại tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y
