|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-02-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH –TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Dân
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 433/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 và giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diễm Ph, sinh năm 1999 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 27, ấp Phú An 2; xã Bình H, huyện Châu Th An Giang
Hiện đang sinh sống: 192/22, khu phố Bình Ph B; phường Bình Ch; Tp.Thuận A, tỉnh Bình Dương
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L sinh năm: 1998 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 27, ấp Phú An 2; xã Bình H, huyện Châu Th An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 04/9/2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị Diễm Ph trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh L do cha mẹ định đoạt và tiến tới hôn nhân năm 2018; có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình H, huyện Châu Th, tỉnh An Giang số 32 ngày 15/3/2018. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với gia đình bên chồng (cha mẹ ruột anh L) đến năm 2021 vợ chồng đi Bình Dương làm công nhân. Đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cự cãi không hạnh phúc; Anh L bỏ mặc mẹ con chị về nhà cha mẹ anh L sống từ tháng 11/2023 vợ chồng ly thân nhau cho đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai không ai có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị không còn tình cảm với anh L nên yêu cầu ly hôn.
- Về con chung: Có 02 con chung cháu Nguyễn Văn Th, sinh ngày 19/9/2018; cháu Nguyễn L Kh sinh ngày 02/02/2021. Hiện các con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con các chung; không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn L vắng mặt trong quá trình tố tụng
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Lê Thị Diễm Ph có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 28/11/2024 nội dung đơn giữ yêu cầu đã khởi kiện.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn L vắng mặt tại phiên tòa không tham gia tố tụng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
+ Về việc chấp hành pháp luật: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ tranh chấp: Chị lê Thị Diễm Ph có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ phiếu xác minh về nơi cư trú của đương sự do Công xã Bình Hòa xác nhận: “Anh Nguyễn Văn L có đăng ký thường trú tại ấp Phú An II, xã Bình H, huyện Châu Th, An Giang; hiện có mặt tại địa Ph”.Tòa án căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng thực hiện theo quy định tại Điều 179 BLTTDS 2015. Anh L không có mặt tại phiên tòa khi được Tòa án triệu tập hợp lệ. Nguyên đơn chị Ph có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Ph và anh L.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: giữa chị Ph và anh L có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, An Giang số 32 ngày 15/3/2018 phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 3, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị. Mục đích tạo điều kiện cho anh chị đoàn tụ; nhưng chị Ph vẫn giữ yêu cầu ly hôn; anh L không đến Toà án để tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án. Anh L không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70,72 BLTTDS. Điều này thể hiện cả hai không ai muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Giữa chị Ph và anh L đã ly thân một thời gian dài từ năm 2023 cho đến nay, trong khoảng thời gian ly thân cả hai không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Như vậy cả ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt theo quy định tại Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014. Do đó, yêu cầu của chị Ph có căn cứ được HĐXX xem xét chấp nhận.
2.2 Về con chung: Có 02 con chung cháu Nguyễn Văn Th, sinh ngày 19/9/2018; cháu Nguyễn L Kh sinh ngày 02/02/2021. Hiện các con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi các con chung; không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh L không có văn bản trình bày ý đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ph. Do đó, yêu cầu của chị Ph phù hợp với quy định tại các Điều 53, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Chị Ph cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung sau khi ly hôn.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm:
Chị Lê Thị Diễm Ph là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[4] Quyền kháng cáo:
Chị Ph, anh L có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 5, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Về hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Diễm Ph; chị Ph được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Chị Lê Thị Diễm Ph được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung cháu Nguyễn Văn Th, sinh ngày 19/9/2018; cháu Nguyễn L Kh sinh ngày 02/02/2021. Chị Ph phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh L trong việc được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Ph không yêu cầu.
3.Về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét.
4.Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Lê Thị Diễm Ph phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007808 ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
5. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Diễm Ph và ông Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Thùy Trang |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Ph ly hôn với ông L
