Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27/6/2025

“Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Hoan.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Văn Phương và bà Phan Thị Thúy Hằng.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Rum Ba - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 38/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 về "tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị V, sinh năm 1985;

Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên

Bị đơn: ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1985;

Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên

Bà V có mặt, ông Q vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Huỳnh Thị V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: bà V và ông Q tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên vào năm 2006. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, ông Q chơi cờ bạc, gây nợ nần, ham chơi không chăm lo gia đình, khi bà V nói, thì ông Q đánh, nhiều lần bà V tha thứ cho ông Q, nhưng ông Q vẫn tính nào tật nấy không thay đổi. Bà V và ông Q đã không còn sống chung từ tháng 02/2025 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay bà V thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên mong Toà án sớm giải quyết cho bà V được ly hôn với ông Q.

- Về con chung: bà V và ông Q có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Quốc H, sinh ngày 20/02/2007 và Nguyễn Tấn H1, sinh ngày 09/02/2015. Cháu H đã thành niên có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu tòa giải quyết, riêng cháu H1 đang sống với bà V, nay ly hôn bà V xin nhận nuôi con và yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đồng.

- Về tài sản chung: bà V không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản khác cho ông Nguyễn Minh Q, nhưng ông Q không đến Tòa án tham gia tố tụng. Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định tố tụng.

- Về nội dung vụ án: về quan hệ hôn nhân: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, bà Huỳnh Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Minh Q. Về con chung: cháu Nguyễn Huỳnh Quốc H, sinh ngày 20/02/2007 đã thành niên có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, bà V không yêu, nên không xem xét. Giao con chung tên Nguyễn Tấn H1, sinh ngày 09/02/2015 cho bà Huỳnh Thị V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giá dục; buộc ông Nguyễn Minh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cháu Huyện mỗi tháng 1.500.000đồng bắt đầu từ tháng 6 năm 2025.

Ông Nguyễn Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: bà V có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với ông Nguyễn Minh Q, ông Q có nơi cư trú tại xã H, huyện P, nên Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Bị đơn ông Q vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị V và ông Nguyễn Minh Q tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại UBND xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên theo giấy chứng nhận kết hôn số 300, quyển số 02/2005, ngày 11/5/2006 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, bà V và ông Q xảy ra mâu thuẫn, ông Q chơi cờ bạc, gây nợ nần, bà V khuyên can nhưng không được, nhiều lần còn đánh bà V, bà V đã tha thứ cho ông Q nhưng ông Q vẫn tính nào tật nấy không thay đổi, từ tháng 02/2025 đến nay bà V và ông Q đã không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Ông Q đã được thông báo về việc bà V xin ly hôn, được triệu tập đến Tòa án để hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, cũng không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà V, thể hiện ông Q không có ý thức hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà V. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của bà V và ông Q xảy ra là có thật và không ai muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Do đó, dù có duy trì hôn nhân của ông Q, bà V về mặt pháp lý thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không còn tồn tại; nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà V; bà V được ly hôn với ông Q.

[3] Về con chung: trong quá trình chung sống, bà Huỳnh Thị V và ông Nguyễn Minh Q có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Quốc H, sinh ngày 20/02/2007 và Nguyễn Tấn H1, sinh ngày 09/02/2015, cháu H đã thành niên có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, cháu H1 đang sống với bà V. Ly hôn, bà V xin nuôi con chung và yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đồng. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà V, để ổn định cuộc sống của con chung và theo nguyện vọng của con chung, HĐXX căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung là cháu Nguyễn Tấn H1, sinh ngày 09/02/2015 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: buộc ông Nguyễn Minh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cháu Huyện mỗi tháng 1.500.000 đồng bắt đầu từ tháng 6 năm 2025.

[4] Về tài sản: bà Huỳnh Thị V không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xét.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 35, 39, 147, 207, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 24 và 27 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; bà Huỳnh Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Minh Q.
  2. Về con chung: giao hai con chung tên Nguyễn Tấn H1, sinh ngày 09/02/2015 cho bà Huỳnh Thị V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giá dục. Ông Nguyễn Minh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cháu mỗi tháng 1.500.000đồng bắt đầu từ tháng 6 năm 2025.

    Ông Nguyễn Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp tại phiếu thu số 0005266 ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên nên bà V đã nộp đủ. Ông Nguyễn Minh Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về cấp dưỡng nuôi con chung.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Phú Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Hòa;
  • - UBND xã Hòa Trị (Số 02/2005 ngày 11/5/2006);
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger