|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-05 - 2025 V/v: Ly hôn, con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lục Văn Khai và ông Hà Quốc Trung
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phượng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Lương Huy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 21/2025/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc "Ly hôn, con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 04 năm 2025, Thông báo mở lại phiên toà số 22/TB-TA ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1989; được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai vẫn vắng mặt, không có lý do.
Các đương sự đều cư trú tại thôn Q, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện ngày 17-02- 2025 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Đặng Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 14 tháng 09 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn, vợ, chồng chung sống bình thường, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn, mấy năm gần đây mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống. Anh Đặng Văn T thường xuyên đánh đập tôi, chúng tôi tự hoà giải nhiều lần xong không có kết quả. Chúng tôi sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay tôi xác định tình cảm vợ, chồng không còn. Đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Đặng Văn T;
- Về con chung: Vợ chồng tôi có ba con chung là: Đặng Thị Mỹ L, sinh ngày 16-10-2015; Đặng San M, sinh ngày 14-03-2017; Đặng Thanh T1, sinh ngày 26-08-2019. Kể từ khi sống ly thân các cháu ở với anh Đặng Văn T. Khi ly hôn, tôi có nguyện vong giao cả ba con cho anh Đặng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, vì từ khi sống ly thân, anh Đặng Văn T giữ các con, không cho tôi nuôi dưỡng. Hiện nay tôi đi làm thuê, không có nơi ở và thu nhập ổn định, nên tôi không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết.
* Anh Đặng Văn T được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không gửi ý kiến đến Toà án.
* Cháu Đặng Thị Mỹ L và cháu Đặng Thị San M có nguyện vọng ở với bố.
* Chị Nguyễn Thị N có đơn trình bày được Trưởng thôn Quyết Thắng 2 và Ủy ban nhân dân xã C xác nhận: Kể từ khi chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn T sống ly thân năm 2024 đến nay thì cả ba con đều do anh Đặng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng; anh T có mẹ đẻ hỗ trợ chăm sóc các cháu. Các cháu được nuôi dưỡng, sinh hoạt, học tập đầy đủ.
*Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được bảo đảm đúng quy định pháp luật, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 và các điều 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Đặng Văn T; giao cho anh Đặng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con. Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Đặng Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn Q, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình. Chị Nguyễn Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đặng Văn T được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên Toà án xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái, tại thời điểm đăng ký kết hôn chị Nguyễn Thị N đủ 17 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, tuy nhiên việc đăng ký kết hôn được thực hiện khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đang có hiệu lực pháp luật nên việc đăng ký kết hôn giữa chị N và anh T là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên, phân tích để chị Nguyễn Thị N về đoàn tụ với anh Đặng Văn T, cùng nhau nuôi dạy con chung, nhưng chị Nguyễn Thị N kiên quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không bảo ban được nhau, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung; vợ, chồng đã sống ly thân, đời sống chung không còn, không đạt được mục đích của hôn nhân, vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N là có căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần được chấp nhận.
[3] Về nuôi con chung:
Xét điều kiện thực tế của chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn T đã được Trưởng thôn Quyết Thắng 2 và Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y xác nhận, từ khi chị N và anh T sống ly thân năm 2024 đến nay thì cả ba con đều do anh T đang trực tiếp nuôi dưỡng, các cháu vẫn đảm bảo được sinh hoạt và học tập đầy đủ. Cháu Đặng Thị Mỹ L và cháu Đặng Thị San M có nguyện vọng ở với bố; còn bản thân chị N đang đi làm thuê, không có chỗ ở ổn định;
Vì vậy cần chấp nhận đề nghị của chị Nguyễn Thị N, giao cho anh Đặng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con là phù hợp với hoàn cảnh thực tế của các bên và nguyện vọng của các con.
Về cấp dưỡng nuôi con do anh Đặng Văn T không có ý kiến nên không xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu giải quyết, anh Đặng Văn T không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.
[5] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tế, khách quan của các đương sự nên cần chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định.
[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; các điều 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Đặng Văn T.
Về con chung: Giao cho anh Đặng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng ba con là: Đặng Thị Mỹ L, sinh ngày 16-10-2015; Đặng San M, sinh ngày 14-03-2017; Đặng Thanh T1, sinh ngày 26-08-2019.
Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000. đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2024/0000399 ngày 18-02- 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh |
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, con chung
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
