Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN DIÊN KHÁNH

TỈNH KHÁNH HÒA

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 5 - 2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thắng Anh Minh
  • Bà Vũ Thị Thanh Tâm
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Hà Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh - Khánh Hòa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXX-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Bích N - sinh năm 1987
  • Địa chỉ: hẻm A L, thị trấn D, D, Khánh Hòa.
  • Có mặt tại phiên tòa.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ D- sinh năm 1986
  • Địa chỉ: hẻm A L, thị trấn D, D, Khánh Hòa.
  • Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02/01/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị Bích N trình bày: Tôi và ông Nguyễn Vũ D tự nguyện kết hôn và chung sống như vợ chồng, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã S, huyện C vào năm 2008. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và lối sống. Ông D thường xuyên có những lời nói, hành động xúc phạm tôi, thiếu quan tâm, chăm sóc gia đình, dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên cãi vã, gia đình không hạnh phúc. Tôi đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm, nhưng ông D không thay đổi. Hiện tại, tôi không còn tình cảm với ông D và chúng tôi đã ly thân từ tháng 10 năm 2024. Tôi yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Vũ D.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Nguyễn Vũ Gia B (sinh ngày 04/5/2009) và Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 09/12/2013). Tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu ông D cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tôi xác định giữa tôi và ông D không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời ông Nguyễn Vũ D đến Tòa án làm việc, nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông D; về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Vũ Gia B (sinh ngày 04/5/2009) và Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 09/12/2013). Bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu ông D cấp dưỡng; về tài sản chung: tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: bà N xác định giữa bà và ông D không có nợ chung. Bị đơn ông Nguyễn Vũ D1 vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh - Khánh Hòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn ông D vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N xin ly hôn với ông D. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Vũ Gia B (sinh ngày 04/5/2009) và Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 09/12/2013) cho bà N trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; tài sản chung: tự thỏa thuận nên không xem xét; về nợ chung: bà N xác định không có nên không xem xét. Về án phí: bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Vũ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Vũ D.
  2. [2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Bích N và ông Nguyễn Vũ D tự nguyện kết hôn và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 45/2008 ngày 10/8/2008 tại UBND xã S, huyện C, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong quá trình chung sống, giữa hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, theo trình bày của bà N nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống và lối sống. Ông D thường xuyên có hành vi và lời nói xúc phạm bà N, thiếu quan tâm, chăm sóc gia đình, dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bà N cho biết hai người đã ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay và bà không còn tình cảm với ông D. Theo biên bản xác minh ngày 16/01/2025 của Ủy ban nhân dân thị trấn D, địa phương không có thông tin cụ thể về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa hai bên. Ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến làm việc. Điều này thể hiện sự thiếu quan tâm của ông đối với cuộc hôn nhân. Từ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, có thể nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Bích N là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.
  3. [3]. Về con chung: Bà N và ông D có 02 con chung là Nguyễn Vũ Gia B (sinh ngày 04/5/2009) và Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 09/12/2013). Hiện tại, bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng các con và các con đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu, việc giao quyền nuôi dưỡng cho bà N là phù hợp với quy định của pháp luật. Bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này.
  4. [4]. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. [5]. Về nợ chung: bà N xác định giữa bà và ông D không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. [6]. Về án phí: bà N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Điều 147, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Bích N được ly hôn với ông Nguyễn Vũ D.
  2. [2]. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Vũ Gia B (sinh ngày 04/5/2009) và Nguyễn Ngọc Gia H (sinh ngày 09/12/2013) cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi).

    Bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Ông D có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

    Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà N và ông D đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. [3]. Về tài sản chung: tự thỏa thuận.
  4. [4]. Về nợ chung: không có.
  5. [5]. Về án phí: bà Vũ Thị Bích N nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001366 ngày 08/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh - Khánh Hòa; bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  6. [6]. Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. [7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Vũ Thị Kim V

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nhung- xin ly hôn ông Dũng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger