Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-5-2025

V/v ly hôn; tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Thắng.
  2. Bà Lê Thị Phương Dung.

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 28/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyếtđưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyếthoãn phiên tòa số 18/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Út N, sinh năm 2002; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Trầm Kỳ T, sinh năm 1989; hộ khẩu thường trú: Số H, đường Đ, khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bảnkhai, biênkhông tiến hành hòa giải được (bà N) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T chung sống với nhau từ năm 2022, hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 07/11/2022 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 149.

Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống, vợ chồng sống chung không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, nuôi con và do bất đồng quan điểm sống, ông T không có sự quan tâm chăm sóc vợ con, ông T không đưa tiền cho bà N để chăm lo gia đình, đời sống vợ chồng quá mệt mỏi, không có hạnh phúc nên không còn sống chung từ tháng 9 năm 2024 đến nay. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên nguyên đơn quyết định làm đơn xin ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trầm Kỳ T, sinh ngày 27/3/2023. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông Trầm Kỳ T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.

* Đối với bị đơn (ông T):

Trong quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho bị đơn biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý vụ án; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định tư cách tham gia tố tụng; các Điều 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự; các Điều từ 208 đến 211 Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự về thời hạn chuẩn bị xét xử; Tòa án xác định đúng mối quan hệ pháp luật. Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn không chấp hành các quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Về nội dung vụ án: Bà N cho rằng quá trình sống chung thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn tình cảm yêu thương nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn, ông T không có mặt tại nhà để nhận các văn bản, Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nhà, ông T không có ý kiến gì thể hiện không có mong muốn hàn gắn. Với thực trạng hôn nhân nói trên, cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia Căn cứ vào các chứng cứ của đương sự cung cấp, Tòa án thu thập và quy định định của pháp luật tại Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn bà N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà N và bị đơn ông T theo các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2022, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 07/11/2022 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 149. Như vậy, quan hệ hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Xét thấy, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho bị đơn biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đều này cho thấy bị đơn không có thiện chí đoàn tụ với nguyên đơn, đồng thời nguyên đơn cũng kiên quyết xin ly hôn do không còn khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những căn cứ trên cho thấy mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, do vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên Trầm Kỳ Thiên P, sinh ngày 27/3/2023. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Xét thấy, hiện nay nguyên đơn là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và nguyên đơn cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; bị đơn không lên Tòa án làm việc nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn về con chung. Vì vậy cần tiếp tục giao con chung tên Trầm Kỳ Thiên P, sinh ngày 27/3/2023 cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của con chung. Yêu cầu của nguyên đơn về con chung là phù hợp với quy định tại Điều 69, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, do vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 22/4/2025 thì nguyên đơn thay đổi ý kiến, theo đó nguyên đơn chỉ yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 28, 39, 147, 179, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 9, 11, 12, 56, 58, 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc "Lytranh chấp nuôi con” của bà Phan Thị Út N đối với ông Trầm Kỳ T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Út N được ly hôn với ông Trầm Kỳ T.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Trầm Kỳ Thiên P, sinh ngày 27/3/2023 cho bà Phan Thị Út N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thị Út N về việc không yêu cầu ông Trầm Kỳ T cấp dưỡng nuôi con chung.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí:

Bà Phan Thị Út N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007338 ngày 25 tháng 02 năm 2025 của C cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương.

6. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CC THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - UBND thị trấn Dầu Tiếng (Giấy CNKH số 149 ngày 07/11/2022);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn; tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của bà N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger