Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/5/2025

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Hưng

2. Ông Phạm Xuân Khoa

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nông Thị Lê Na - Thư ký viên

Toà án nhân dân huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: Ông Nguyễn Thành Đạt - Kiểm sát viên

Ngày 26/5/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đại Từ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 345/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20a/2025/QÐST-HNGĐ ngày 02/4/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 (có mặt).

Bị đơn: Anh Trần Văn T năm 1986 (vắng mặt).

Cùng cư trú: Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày như sau:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Trần Văn T1 ký kết hôn ngày 18/5/2010 tại UBND xã Y, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn sống ở nhà chồng tại xóm C, xã K (nay là xã V), huyện Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì mâu thuẫn trầm trọng do anh T2 tu trí làm ăn, mải mê cờ bạc dẫn đến nợ nần, chị và gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng không thay đổi mà còn đánh đập chị nên chị và anh T3 sống ly thân từ tháng 01/2022 đến nay, mỗi người một nơi, chị ở nhà ngoại còn anh T4 nhà bố mẹ đẻ, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm với anh T2 còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh T5 hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010 và cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017. Hiện nay cháu C ở cùng mẹ và đi học ở Y còn cháu V ở với bố và học ở gần nhà ông bà nội. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017. Anh T7 nuôi dưỡng, chăm sóc, giao dục cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn anh Trần Văn T8 trình giải quyết anh T2 có bản tự khai, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị H. T9 đã xác minh tại gia đình anh T10 đẻ anh T16 ông Trần Tiến P biết anh T11 làm ở Bắc Ninh vẫn thường xuyên về nhà và liên lạc với gia đình, anh T13 chị H1 hôn năm 2010 được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng H2 Tl về sống cùng vợ chồng ông bà, thời gian đầu sống hạnh phúc đến khoảng tháng 9/2022 thì vợ chồng có mẫu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân theo ông được biết là do chị H3 mối quan hệ ngoài luồng, gia đình có khuyên nhưng không được nên vợ chồng có xảy ra cãi vã, chị H4 về nhà ngoại ở Y, B ngày 26/10/2023 đến nay. Vợ chồng H2 Tl có hai con chung là cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010 và cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017. Hiện nay cháu C ở cùng mẹ còn cháu V ở với bố và ông bà nội. Về tài tài sản chung và nợ chung của vợ chồng HToản thì ông không rõ. Do anh T1 đi làm vắng nhà nên Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Tl qua ông Trần Tiến P1 là bố đẻ anh Trần Văn T12

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để các đương sự về đoàn tụ với nhau và thỏa thuận với nhau các vấn đề giải quyết trong vụ án. Tuy nhiên, anh T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, do đó cần phải đưa vụ án ra xét xử để xem xét yêu cầu khởi kiện và nguyện vọng của các bên.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T13 đề nghị giao cho chị H5 tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017, giao cho anh T7 nuôi dưỡng, chăm sóc, giao dục cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010, đến khi con chung đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật; xác định đúng quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị H

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trần Văn T14
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017 cho chị Nguyễn Thị H5 tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục; Giao cho anh Trần Văn T15 dưỡng, chăm sóc, giao dục cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định. Chị H8 T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H6 yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yều giải quyết nên không xem xét.

Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H xin ly hôn với anh Trần Văn T14, sinh năm 1986, có HKTT tại xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đây là vụ án về tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa anh Trần Văn T14 vắng mặt nhưng Toà án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Do đó áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H7 anh Trần Văn T14 đăng ký kết hôn ngày 18/5/2010 tại UBND xã Y, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn là tự nguyện, không bị lừa dối, cưỡng ép. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H7 anh Trần Văn T16 hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

[2.2]. Về tình cảm vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Sau khi kết hôn, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2020 cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã và không chia sẻ được với nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay, chị H xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau đề nghị Toà án cho chị và anh T được ly hôn.

Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H7 anh T, HĐXX thấy rằng: Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, nhưng kể từ khoảng năm 2020 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã và không chia sẻ được với nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay không còn quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau nên hôn nhân không đạt được hạnh phúc. Chị H đều xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể hằn gắn được, anh T8 trình giải quyết vụ án không có văn bản ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nên Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H8 Trần Văn T14 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ và được chấp nhận.

[2.3]. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị H7 anh T19 hai con chung là cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010 và cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017. Hiện nay cháu C ở cùng mẹ và đi học ở Y, Y, Bắc Giang, còn cháu V ở với bố và học ở Bình Thuận, Đ, T17 Nguyên Quá trình giải quyết cháu C có nguyện vọng ở với mẹ, cháu V1 nguyện vọng ở với bố và ông bà nội. Xét nguyện vọng của các con, nguyện vọng của của chị H7 để các con có tâm lý ổn định, không ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm lý của các con và không xáo trộn việc học tập HĐXX thấy rằng cần giao con chung là cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao con chung là cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017 cho chị H5 tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị Hanh T18 quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết chị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H9 định vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

2.4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 57, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H10 việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Trần Văn T14

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trần Văn T12
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H7 anh Trần Văn T19 02 con chung là cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010 và cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017. Giao cho chị Nguyễn Thị H5 tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Hà T6 Csinh ngày 06/8/2017; giao cho anh Trần Văn T14 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Hà T6 Vsinh ngày 25/10/2010 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Chị Hanh T18 quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hoặc thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H6 yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai 0005747 ngày 05/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND H. Đại Từ;
  • - Chi cục THADS TP;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Yên Lư, Yên Dũng, Bắc Giang;
  • - Lưu HS, BP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger