|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc ————————— |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST.
Ngày 25-11-2025.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Quỳnh;
- Bà Lại Thị Lân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Say - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025, về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, sinh năm 2003; địa chỉ bản L, xã S, tỉnh Lào Cai; “Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1997; địa chỉ thôn L, xã H, tỉnh Lào Cai; “Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị Lò Thị D trình bày:
+ Quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Hoàng Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. (nay là xã H, tỉnh Lào Cai) vào ngày 30 tháng 11 năm 2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh M nghiện ma túy, mặc dù chị D đã khuyên bảo nhiều lần, nhưng anh M không nghe; ngoài ra anh M còn nghi ngờ chị D có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác, nên anh M thường xuyên chửi bới, đánh đập chị D. Mâu thuẫn giữa hai người đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị D xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn M.
+ Con chung: Chị Lò Thị D và anh Hoàng Văn M có 02 con chung là Lò Thanh H, sinh ngày 28-9-2018 và Hoàng Thị Huyền T, sinh ngày 28-10-2021. Sau khi ly hôn chị D đề nghị để anh M trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung; chị D không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Tài sản chung và nợ chung: Chị Lò Thị D không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn M trình bày:
+ Quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn M và chị Lò Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. (nay là xã H, tỉnh Lào Cai) vào ngày 30 tháng 11 năm 2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn L, xã H. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai người tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, sau đó chị D bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở bản L, xã S. Mâu thuẫn giữa hai người đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng chị D không chịu về chung sống cùng anh M. Nay anh M xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị D xin ly hôn, anh M nhất trí.
+ Con chung: Anh Hoàng Văn M và chị Lò Thị D có 02 con chung là Lò Thanh H, sinh ngày 28-9-2018 và Hoàng Thị Huyền T, sinh ngày 28-10-2021. Sau khi ly hôn anh M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung; không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Tài sản chung và nợ chung: Anh Hoàng Văn M không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai Lò Thanh H trình bày: Trong trường hợp anh Hoàng Văn M và chị Lò Thị D ly hôn; Lò Thanh H có nguyện vọng ở cùng anh M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai phát biểu quan điểm:
Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng.
- Điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật HN&GĐ năm 2014:
- Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn M.
- Về con chung: Giao cháu Lò Thanh H, sinh ngày 28-9-2018 và Hoàng Thị Huyền T, sinh ngày 28-10-2021 cho anh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con; không cấm chị D thăm nom con chung
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí DSST: Chị Lò Thị D phải chịu án phí sơ thẩm 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tố tụng: Chị Lò Thị D khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Hoàng Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã H, tỉnh Lào Cai) vào ngày 30 tháng 11 năm 2021 và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Như vậy, hôn nhân của chị D và anh M là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng chị D và anh M đều xác định là có mâu thuẫn; hiện hai người đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau; chị D xin ly hôn, anh M nhất trí. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị D và anh M đã thật sự trầm trọng; đời sống chung vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Lò Thị D được ly hôn với anh Hoàng Văn M.
[3] Con chung: Chị Lò Thị D và anh Hoàng Văn M có 02 con chung là Lò Thanh H, sinh ngày 28-9-2018 và Hoàng Thị Huyền T, sinh ngày 28-10-2021.
Đối với đề nghị của chị D và anh M sau khi ly hôn anh M là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Sự thống nhất của chị D và anh M là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội và cũng phù hợp với nguyện vọng của con trên 7 tuổi, nên Hội đồng xét xử giao cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.
Cấp dưỡng nuôi con: Anh M không đề nghị chị D phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí: Chị Lò Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 262, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn M.
- Con chung: Xử giao cho anh Hoàng Văn M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Lò Thanh H, sinh ngày 28-9-2018 và Hoàng Thị Huyền T, sinh ngày 28-10-2021; chị Lò Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Lò Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Án phí: Chị Lò Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số: 0001050 ngày 07/10/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh L; chị D đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Xuân |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Thị D xin ly hôn anh Hoàng Văn M
