Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỆ THỦY

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31 /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Hải Nam và ông Nguyễn Quang Nhã;
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 77 /2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị X, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn trình bày ý kiến và xin giải quyết vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Trần Thị X trong bản tự khai ngày 05/6/2025 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn L yêu nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 03/12/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống tại xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 14 năm đầu thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, khiến tình cảm vợ chồng ngày càng sứt mẻ. Xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn anh Phạm Văn L.

Về con chung: Vợ chồng chị có ba con chung Phạm Thanh N, sinh ngày 12/5/2009, Phạm Thị Trà M, sinh ngày 04/02/2012 và Phạm Trường G, sinh ngày 30/11/2019. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân nhau, con chung do chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (1.000.000 đồng/tháng/con).

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh L tự thoả thuận về tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, bị đơn anh Phạm Văn L vắng mặt nhưng anh L có đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt có nội dung cụ thể:

Về hôn nhân: Anh nhất trí như nội dung trình bày của chị Trần Thị X về quá trình yêu nhau, kết hôn và chung sống của vợ chồng. Anh thừa nhận mâu thuẫn như nội dung trình bày của chị X. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng nên chị X xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh thừa nhận vợ chồng anh có 03 con chung là Phạm Thanh N, sinh ngày 12/5/2009, Phạm Thị Trà M, sinh ngày 04/02/2012 và Phạm Trường G, sinh ngày 30/11/2019. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân nhau, con chung do chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau ly hôn, anh có nguyện vọng giao các con chung cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi ba con mỗi tháng 3.000.000 đồng (1.000.000 đồng/tháng/con) kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh tự thoả thuận về tài sản chung, nợ chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị X xin ly hôn anh Phạm Văn L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn chị Trần Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phạm Văn L có đơn trình bày ý kiến và xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị X và anh Phạm Văn L.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị X và anh Phạm Văn L kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 03/12/2008 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

[4] Về mâu thuẫn: Theo thừa nhận của cả nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Hạnh phúc được khoảng 14 năm thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vả, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Vợ chồng sống ly thân nhau từ từ đầu năm 2024 cho đến nay, vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị X xin ly hôn anh L. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng anh L không hợp tác, không đến Toà án theo giấy triệu tập, không có thiện chí muốn hoà giải mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị X.

[5] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị Trần Thị X và anh Phạm Văn L thực tế đã xảy ra, do vợ chồng tính tình không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay, vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai. Xét thấy, hôn nhân chỉ thực sự tồn tại khi cả hai vợ chồng cùng yêu thương, cùng nhau xây đắp gia đình, cùng nhau có trách nhiệm, chăm sóc cũng như tạo mọi điều kiện cho nhau trong cuộc sống. Hội đồng xét xử xét thấy, thực tế mâu thuẫn giữa chị X và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị X, xử cho chị X được ly hôn anh L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Về nuôi con chung: Chị X và anh L có 03 con chung là Phạm Thanh N, sinh ngày 12/5/2009, Phạm Thị Trà M, sinh ngày 04/02/2012 và Phạm Trường G, sinh ngày 30/11/2019. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân nhau, con chung do chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết, chị X có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung, yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi ba con mỗi tháng 3.000.000 đồng (1.000.000 đồng/tháng/con). Đối với anh L, anh đồng ý giao các con chung cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con đến khi các con đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, kể từ khi vợ chồng chị X, anh L sống ly thân, các con đã sống ổn định cùng với chị X từ đó cho đến nay. Để đảm bảo sự ổn định về mặt sinh hoạt, tâm lý của con khi bố mẹ ly hôn, vì vậy, cần giao các con chung cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế, nguyện vọng của các bên đương sự và phù hợp với nguyện vọng con chung. Đối với việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy, chị X có yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi các con mỗi tháng 3.000.000 đồng, anh L đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung khi ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn, anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi dưỡng nuôi các con mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với các Điều 82, 83, 107 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình. Sau này, nếu điều kiện của các bên thay đổi, vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[7] Về tài sản chung, nợ chung: Chị X, anh L tự thoả thuận về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, bị đơn anh Phạm Văn L phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Xử cho chị Trần Thị X được ly hôn anh Phạm Văn L.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao các con chung là Phạm Thanh N, sinh ngày 12/5/2009, Phạm Thị Trà M, sinh ngày 04/02/2012 và Phạm Trường G, sinh ngày 30/11/2019 cho chị Trần Thị X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (1.000.000 đồng/tháng/con), kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

    Anh Phạm Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Sau này nếu điều kiện thay đổi, vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thoả thuận về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí:
    1. Án phí ly hôn: Nguyên đơn chị Trần Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004608 ngày 12/5/2025 (chị Trần Thị X đã nộp đủ án phí).
    2. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 của Luật Thi hành án dân sự.

  5. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị X và anh Phạm Văn L vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Lệ Thủy;
  • - THADS huyện Lệ Thủy;
  • - UBND xã Hồng Thuỷ (để ghi vào sổ Hộ tịch, ĐKKH ngày 03/12/2008);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31 /2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 31 /2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger