|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 6 - 2025
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN – TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân : Bà Trần Thị Nhi
Bà Đỗ Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 20/6/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn V, sinh năm 1972; CCCD:
- Bị đơn: Chị Lê Thị Ngh, sinh năm 1971; CCCD: [...].
Đều ĐKHKTT: Thôn V, xã L, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Anh V, chị Ngh đều có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Văn V trình bày: Anh và chị Lê Thị Ngh kết hôn với nhau vào ngày 27 tháng 3 năm 2000 được đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương trên tinh thần tự nguyện. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, mỗi người đều có quan điểm, lối sống riêng, nên kể từ năm 2021 anh và chị Ngh đã tự sống ly thân. Ngày 18/3/2025, anh và chị Ngh đã cùng ký đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tuy nhiên chị Ngh xác định không đến Tòa án để làm việc, nên nay anh giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn chị Ngh.
Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, chị Ngh không có mặt theo giấy triệu tập. Chị gửi Bản tự khai và Đơn đề nghị vắng mặt, nhất trí ly hôn cùng anh Phạm Văn V.
Về con chung: Anh Phạm Văn V và chị Lê Thị Ngh có một con chung là cháu Phạm Lê V, sinh ngày 28/04/2001, hiện cháu đã đủ tuổi trưởng thành, anh V và chị Ngh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh V và chị Ngh đều không có quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiến hành làm việc tại Ủy ban nhân dân xã L cung cấp: Anh V và chị Ngh kết hôn ngày 27 tháng 3 năm 2000 được đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, hiện anh chị đã tự sống ly thân. Nay anh V đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, chị Ngh cũng không yêu cầu hòa giải, đề nghị giải quyết vắng mặt, nên địa phương đề nghị Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu ly hôn giữa anh V và chị Ngh theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, anh V và chị Ngh đều có đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt và giữ nguyên nội dung như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện VKSND thị xã Kinh Môn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Đối với các đương sự cũng đã cơ bản chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết, đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Văn V được ly hôn chị Lê Thị Ngh. Về con chung và tài sản chung: đôi bên không yêu cầu, nên không đặt ra việc giải quyết trong vụ án; Về án phí: Anh V phải nộp tiền án phí sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của anh Phạm Văn V đối với chị Lê Thị Ngh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn V, xã L, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Quá trình Tòa án đưa vụ án ra xét xử, anh V và chị Ngh đều đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn vắng mặt. Do vậy, TAND thị xã Kinh Môn áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh V và chị Ngh là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn V kết hôn với chị Lê Thị Ngh trên tinh thần tự nguyện, được đăng ký kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét nguyên nhân gây mâu thuẫn dẫn tới việc anh V đề nghị xin ly hôn chị Ngh, chủ yếu là do đôi bên có sự bất đồng với nhau về quan điểm sống, hai bên không có tiếng nói chung, nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Năm 2021, anh V và chị Ngh đã tự sống ly thân, quá trình đưa vụ án ra xét xử anh V và chị Ngh cùng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn vắng mặt. Những điều đó, chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa anh V và chị Ngh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không thành, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V. Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để xử cho anh Phạm Văn V được ly hôn chị Lê Thị Ngh là phù hợp.
[3] Về con chung: Anh Phạm Văn V và chị Lê Thị Ngh có một con chung là cháu Phạm Lê V, sinh ngày 28/04/2001, hiện cháu đã đủ tuổi trưởng thành, anh V và chị Ngh không yêu cầu, nên không đặt ra việc giải quyết.
[4] Về chia tài sản: Anh Phạm Văn V và chị Lê Thị Ngh không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án thì anh V phải nộp tiền án phí sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn V.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Văn V và chị Lê Thị Ngh.
- Về án phí: Anh Phạm Văn V phải nộp 300.000đ tiền án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai thu tiền số: 0007078 ngày 31/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn. Anh V đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn V và chị Lê Thị Ngh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh V và chị Ngh ly hôn
