Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11- ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18/11/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Đông Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Phúc.
  2. Bà Đặng Thị Nguyên Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Đồng Tháp: Bà Hồ Thị Thuần – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 07 năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Lê Văn S, sinh năm: 1995.

Địa chỉ thường trú: Thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Thôn H, xã C, tỉnh Hà Tĩnh).

Địa chỉ liên hệ: Số B, đường T, khu phố N, phường D, TP . Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: chị Nguyễn Thị Ánh Đ, sinh năm: 1991.

Địa chỉ thường trú: ấp A, xã A, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ liên hệ: Phân T, Trại giam T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1963.

Địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Đồng Tháp.

Anh S, chị Đ, ông H có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn xin ly hôn và bản khai cùng ngày 11/03/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn S trình bày:

Về hôn nhân: Anh S và chị Á Đào tự quen nhau và kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã A theo giấy chứng nhận kết hôn số: 60 ngày 15/06/2016. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống cãi vã nhau thường xuyên dẫn đến ly thân từ tháng 03/2018 đến nay. Trong quá trình sống ly thân không có gặp nhau hàn gắn tình cảm, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được. Nay anh S yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Ánh Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống anh S và chị Đ có 01 đứa con chung Lê Nguyễn Gia H1, sinh ngày 03/11/2016. Khi ly hôn anh S đồng ý giao con chung cho chị Á Đào tiếp tục nuôi dưỡng, hiện con chung Gia H1 đang sống chung với ông Nguyễn Văn H (cha chị Đ). Anh S không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị Ánh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, có ý kiến trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị Đ thống nhất ý kiến anh S về quá trình sống chung như anh S trình bày, nay anh S yêu cầu ly hôn, chị đồng ý.

Về con chung: Thống nhất ý kiến anh S, đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Nguyễn Gia H1, hiện con chung Gia H1 đang sống chung với ông H (cha chị Đ). Chị Đ không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H có đơn xn xét xử vắng mặt, có ý kiến trình bày như sau:

Ông là cha ruột của chị Ánh Đ, cháu Gia H1 từ nhỏ sống với gia đình ông, từ khi chị Ánh Đ và anh S ly thân đến nay cháu Gia H1 sống với gia đình ông. Nay anh S và chị Ánh Đ ly hôn ông không có ý kiến. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn, người liên quan đã thực hiện đúng, đầy đủ theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh S được ly hôn với chị Ánh Đ. Về con chung chị Ánh Đ được tiếp tục nuôi dưỡng, anh S không cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn không có văn bản ý kiến thay đổi yêu cầu, vẫn giữ nguyên yêu cầu tại các buổi hòa giải. Đối với bị đơn, người liên quan có đơn xin vắng mặt, có văn bản ý kiến gởi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh S có đơn xin ly hôn với chị Đ, trú tại: xã A, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11- Đồng Tháp.

Phiên tòa hôm nay chị Đ, ông H, anh S có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: anh S xin ly hôn với chị Đ, con chung đồng ý giao cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng, tài sản chung không tranh chấp, nợ chung không có nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

[3] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, anh S và chị Đ kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống lúc đầu có hạnh phúc, đến tháng 03 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm. Trước đây và cũng như tại phiên hòa giải anh S yêu cầu được ly hôn với chị Đ. Đối với chị Đ có văn bản ý kiến gởi đến Tòa án thống nhất ly hôn với anh S nên căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận ly hôn giữa anh S và chị Đ.

Về con chung: Trong thời gian sống chung anh S và chị Đ có một con chung cháu Gia H1, hiện cháu Gia H1 đang sống chung với ông H (cha chị Đ). Anh S đồng ý giao con chung cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Mặt khác cháu Gia H1 có nguyện vọng được sống với chị Đ (hiện đang sống cùng ông H). Đối với chị Đ có ý kiến đồng ý tiếp tục nuôi con chung, do đó ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của anh chị là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh S không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung, chị Đ có ý kiến không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung giữa anh S và chị Đ sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về tài sản chung: Tại các buổi hòa giải anh S khẳng định tài sản chung không có, chị Đ có văn bản ý kiến về tài sản chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp tài sản chung giữa anh S và chị Đ sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về nợ chung: Tại các buổi hòa giải anh S khẳng định không có nợ chung, chị Đ không có văn bản ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp nợ chung giữa anh S và chị Đ sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nội dung và diễn biến của vụ án nên có cơ sở chấp nhận.

[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh S phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000đ. Chị Đ không phải chịu tiền án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Điều 27 Nghị quyết: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
    • - Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn S đối với chị Nguyễn Thị Ánh Đ.
  2. Về quan hệ con chung:
    • - Công nhận sự thỏa thuận nuôi con giữa anh Lê Văn S đối với chị Nguyễn Thị Ánh Đ.
    • - Chị Nguyễn Thị Ánh Đ được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Nguyễn Gia H1, sinh ngày 03/11/2016, hiện con chung Gia H1 đang sống chung với gia đình chị Đ ông Nguyễn Văn H (cha chị Đ). Anh Lê Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
  5. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  6. Về án phí:
    • - Anh Lê Văn S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Nhưng được trừ vào toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000169 ngày 08 tháng 07 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11-Đồng Tháp. Như vậy anh S đã nộp đủ.
    • - Chị Nguyễn Thị Ánh Đ không phải chịu tiền án phí ly hôn.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND T.Đồng Tháp;
  • - VKSND khu vực 11-Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Uỷ ban nhân dân xã nơi đăng ký kết hôn.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thị Đông Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger