Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀNG MAI

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18 - 6 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Chu Quang Cường.

Ông Lê Văn Biên.

- Thư ký phiên toà: Ông Cao Trọng Sơn – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Văn Thị Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 50/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; nơi đăng ký thường trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ V, sinh năm 1979; nơi đăng ký thường trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, B tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Vầm kết H với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q (nay là phường Q, thị xã H), tỉnh Nghệ An vào ngày 28/3/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung; anh V hay ghen tuông, rượu chè và đánh đạp chị; mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện; vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2022 đến nay, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay chị thấy còn tình cảm không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Vầm .

Về con chung: Chị và anh V có 03 người con chung là Đỗ Thị N, sinh ngày 11/01/2006, Đỗ Văn T1, sinh ngày 25/9/2009 và Đỗ Thanh N1, sinh ngày 15/4/2014. Hiện nay cháu Đỗ Thị N đã đủ tuổi trưởng thành. Ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi 02 con chung Đỗ Văn T1 và Đỗ Thanh N1, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Đỗ V: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh V đúng quy định. Tuy nhiên anh V không có mặt tại Tòa án để làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của anh V đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con của chị T.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân, nơi cư trú của các đương sự tại Ủy ban nhân dân phường Q thể hiện: Anh V và chị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q và đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Quá trình sinh sống tại địa phương thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị T và anh V có 03 người con chung, hiện tại các con chung đều do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Cháu Đỗ Văn T1 và Đỗ Thanh N1 trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì hai cháu có nguyện vọng được ở với mẹ để được mẹ chăm sóc, nuôi dạy, vì từ trước đến nay các cháu đều ở với mẹ.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Áp dụng các Điều 51,53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 147, 227,228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, Điều 6 Nghị quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Đỗ Vầm . Về con chung: Giao cháu Đỗ Văn T1, sinh ngày 25/9/2009 và cháu Đỗ Thanh N1, sinh ngày 15/4/2014 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh Đỗ Vầm . Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu; anh Đỗ V không có ý kiến gì. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh C án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Đỗ V có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn vắng mặt trong các buổi làm việc. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh V vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định.

[2]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Vầm kết H với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q vào ngày 28/3/2005 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau; vợ chồng không có tiếng nói chung; mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2022 đến nay, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện tại, chị T khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và nhất quyết yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Vầm . Quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, không hợp tác làm việc với Tòa án, điều đó chứng tỏ anh V không có ý thức để đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy, việc vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Đỗ Vầm .

[3]. Về con chung: Chị T và anh Đỗ V có 03 người con chung là Đỗ Thị N, sinh ngày 11/01/2006, Đỗ Văn T1, sinh ngày 25/9/2009 và Đỗ Thanh N1, sinh ngày 15/4/2014. Hiện nay cháu Đỗ Thị N đã đủ tuổi trưởng thành. Ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi 02 con chung Đỗ Văn T1 và Đỗ Thanh N1 đến khi đủ tuổi trưởng thành. Cháu Đỗ Văn T1 và Đỗ Thanh N1 đều có nguyện vọng được ở với mẹ.

Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ. Tuy nhiên, việc giao con cho ai là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần xem xét đến các điều kiện để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt tốt nhất cho con. Xét thấy, từ lúc vợ chồng sống ly thân cho đến nay, chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con phát triển khỏe mạnh bình thường. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc nhưng anh V đều vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ anh V đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ nuôi con chung của mình; không có trách nhiệm đối với các con. Vì vậy, cần tiếp tục giao 02 con chung cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành là có căn cứ, đúng pháp luật và phù phù hợp với nguyện vọng của con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Đối với cháu Đỗ Thị N đã đủ tuổi trưởng thành, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét

[4]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Do chị T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đỗ V là phù hợp.

[5]. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Đỗ V không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[6]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

[7]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 88 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ V được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao 02 người con chung Đỗ Văn T1, sinh ngày 25/9/2009 và Đỗ Thanh N1, sinh ngày 15/4/2014 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đỗ Vầm D chị Nguyễn Thị T chưa yêu cầu. Anh Đỗ V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004392 ngày 22/4/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
  2. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Các đương sự
  • - Chi Cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - UBND phường Quỳnh Thiện
  • - Lưu HSVA; VPTA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger