Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18/3/2025

“V/v Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thúy Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Sỹ Hoài

Bà Lê Thị Bích Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 1133/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim P, sinh năm 1990

HKTT: Thôn B, xã N, thị xã N, Khánh Hòa.

Địa chỉ hiện nay: 45 S, VCN2, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Hòa K, sinh năm 1997

Địa chỉ: B C, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Kim P trình bày:

Bà và ông Lê Hòa K tự nguyện chung sống với nhau từ tháng 12 năm 2019, đến năm 2023 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P (nay là phường T), thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 09/01/2023. Quá trình chung sống với nhau không hạnh phúc do bất đồng quan điểm nên thường xảy ra kình cãi. Từ khi bà và ông K chưa đăng ký kết hôn, bà đã có thai với ông K và đã xảy ra mâu thuẫn nhiều lần. Đến tháng 12/2022 bà sinh con thì hai bên tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông K không quan tâm vợ con, thường xuyên đi nhậu về khuya và có lần ông K còn bạo lực với bà. Bà đã cố gắng chịu đựng vì con và khuyên bảo nhiều lần nhưng ông K không thay đổi. Đến tháng 03/2023 mâu thuẫn giữa bà và ông K trầm trọng hơn nên không sống chung với nhau từ đó cho đến nay. Hiện nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không quan tâm đời sống của nhau và không còn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, bà P yêu cầu ly hôn với ông Lê Hòa K.

Về con chung: Bà và ông K có 01 con chung là Lê Minh K1 – sinh ngày 18/12/2022. Ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu K1 và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Hòa K trình bày:

Ông và bà Phạm Thị Kim P chung sống với nhau từ năm 2019 và đến năm 2023 đăng ký kết tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N đúng như bà P trình bày. Quá trình chung sống ông cũng thừa nhận thường xảy ra mâu thuẫn do giữa ông và gia đình phía nhà bà P không hợp nhau, hay kình cải. Ngay cả khi trước ngày lễ cưới diễn ra giữa ông và bà P cũng như phía gia đình bà P đã xảy ra mâu thuẫn. Đến tháng 12/2022 bà P sinh con thì phía gia đình bà P không cho ông gặp con nên mâu thuẫn giữa hai bên trầm trọng hơn. Sau đó vì con nên bỏ qua và đi đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, đến tháng 03/2023 thì ông và bà P không sống chung với nhau cho đến nay. Tuy nhiên, ông không đồng ý ly hôn với bà P vì ông còn tình cảm vợ chồng với bà P.

Về con chung: Ông và bà P có 01 con chung là Lê Minh K1 – sinh ngày 18/12/2022. Nếu ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu K1 và không yêu cầu bà P cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông K, yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Bị đơn ông K không đồng ý ly hôn với bà P, nếu ly hôn thì ông K đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Minh K1 và không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phạm Thị Kim P được ly hôn ông Lê Hòa K. Về con chung, đề nghị giao cháu Lê Minh K1 – sinh ngày 18/12/2022 cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà P không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà P và ông K xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí, bà P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Phạm Thị Kim P có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Lê Hòa K. Ông K có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phạm Thị Kim P và ông Lê Hòa K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường P (nay là phường T), thành phố N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 09/01/2023, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Qua lời khai của bà Phạm Thị Kim P và ông Lê Hòa K, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống, vợ chồng bà P và ông K có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ tháng 03/2023, bà P và ông K không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm gì đến ai, mỗi người có cuộc sống riêng. Ông K không đồng ý ly hôn với bà P vì còn tình cảm vợ chồng nhưng thực tế ông không có thiện chí cũng như biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng và ông cho rằng nếu không ly hôn thì ông và bà P cũng không thể quay lại chung sống với nhau, vì bà P không muốn chung sống với ông và phía gia đình bà P cũng không cho ông quay về chung sống với bà P. Bà P xác định bà không còn tình cảm với ông K và không muốn chung sống với ông K nữa nên bà vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông K. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà P và ông K đã trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà P là có cơ sở chấp nhận và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Bà Phạm Thị Kim P và ông Lê Hòa K có 01 con chung là Lê Minh K1 – sinh ngày 18/12/2022. Bà P và ông K đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu K1. Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu K1 vẫn còn nhỏ, chưa được 36 tháng tuổi và hiện nay bà P là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1. Do đó, cần tiếp tục giao cháu K1 cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành và phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng: Bà P không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bà P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim P.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim P được ly hôn ông Lê Hòa K.
  2. Về con chung: Giao con chung là Lê Minh K1 – sinh ngày 18/12/2022 cho bà Phạm Thị Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành.
  3. Về cấp dưỡng: Bà Phạm Thị Kim P không yêu cầu ông Lê Hòa K cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng. Vì lợi ích của con chung, nếu xét thấy cần thiết bà P và ông K đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Kim P và ông Lê Hòa K xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  2. Về án phí: Bà Phạm Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003438 ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà P đã nộp đủ án phí.

Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - UBND phường Phước Tân (nay là phường Tân Tiến), TP. Nha Trang (Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 09/01/2023);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thúy Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger