|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17-6-2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Kiều Thị Thắng và bà Nguyễn Thị Nghị
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Đầu Xuân Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1994, địa chỉ: TDP L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
- Bị đơn: Anh Kiều Văn M, sinh năm 1988, địa chỉ: TDP L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đỗ Thị L trình bày:
Chị kết hôn với anh Kiều Văn M ngày 21/02/2014, trước khi cưới có tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau ngày cưới chị về làm dâu và ở chung cùng gia đình anh M, sau đó vợ chồng chị ra ở riêng. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Từ năm 2016 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do trước khi kết hôn anh chị chưa tìm hiểu rõ về nhau, sau khi về chung sống thì vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra bất đồng. Trong cuộc sống vợ chồng, anh M không tôn trọng chị, mọi việc lớn nhỏ trong gia đình anh M đều tự quyết mà không trao đổi hay bàn bạc gì với chị, chị và anh M chung sống nhưng không có tình cảm với nhau, coi như không có sự tồn tại của nhau. Từ cuối năm 2019 đến nay anh chị vẫn ở cùng một nhà nhưng sống ly thân. Những năm gần đây anh M còn thường xuyên chơi bời dẫn đến nợ nần. Suốt từ những năm 2022-2023 nhiều lần anh M vay mượn tiền, vợ chồng chị phải trả nợ rất nhiều từ việc anh M chơi bời, năm 2023 vợ chồng làm nhà, chị có tiết kiệm được một khoản tiền để làm nhà thì anh M cũng lấy ra để trả nợ. Năm 2024 chị phải trả nợ 100.000.000đồng cho anh M, cũng trong năm 2024 vợ chồng đã mâu thuẫn rất căng thẳng, chị đã đưa các con về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân anh M, sau đó chị làm đơn ly hôn anh M, nhưng anh M dọa sẽ tự tử nên chị chưa nộp đơn. Đến nay anh M đi làm thuê ở đâu chị và gia đình không biết nhưng thỉnh thoảng vẫn gửi tiền về trả nợ cho những người mà anh M vay tiền. Nay chị không còn tình cảm với anh M, chị xin được ly hôn anh M.
Về con chung: Chị và anh M có hai con chung là cháu Kiều Minh N, sinh ngày 15/12/2014 và cháu Kiều Khánh D, sinh ngày 13/9/2017, hiện nay cả hai con chung đang ở cùng chị L. Ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi cháu N và cháu D, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ, công sức: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Kiều Văn M đến Tòa án làm việc, nhưng anh M đều vắng mặt không có lý do. Toà án đã tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình được biết anh M hiện nay đang đi làm ăn xa nhà và anh M làm gì, ở đâu gia đình và địa phương đều không được biết. Ngày 22/5/2025, anh Kiều Văn M đã nhờ anh trai ruột là anh Kiều Xuân L1 gửi văn bản trình bày đến Toà án, trong đó anh M đã thể hiện quan điểm muốn được đoàn tụ với chị L để cùng nuôi dạy con cái. Trường hợp chị L vẫn kiên quyết muốn ly hôn thì anh đồng ý, đề nghị Toà án giải quyết để anh được nuôi cả hai con chung là cháu Kiều Minh N, sinh ngày 15/12/2014 và cháu Kiều Khánh D, sinh ngày 13/9/2017 hoặc đề nghị Toà án giao cho anh được nuôi một trong hai cháu. Các vấn đề về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức anh M không trình bày trong đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị L, cho chị Đỗ Thị L ly hôn anh Kiều Văn M. Về con chung, giao cho chị Đỗ Thị L tiếp tục nuôi cả hai con chung là cháu Kiều Minh N và cháu Kiều Khánh D, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đỗ Thị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Kiều Văn M và đề nghị giải quyết về việc giao nuôi con chung, anh M có nơi cư trú tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án,Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Kiều Văn M nhưng anh M vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Kiều Văn M.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị L và anh Kiều Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề, tính tình không hợp nhau nên không chia sẻ, đồng cảm với nhau. Từ cuối năm 2019 anh chị đã sống ly thân nhau cho đến nay, trong thời gian đó tình cảm vợ chồng không những không được cải thiện mà còn mâu thuẫn căng thẳng hơn. Việc chị L xin ly hôn, mặc dù anh M có thể hiện quan điểm không đồng ý ly hôn nhưng anh M không thiện chí hợp tác cùng Toà án để tham gia hoà giải nhằm hàn gắn tình cảm để đoàn tụ với chị L. Xét thấy hôn nhân giữa chị L và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn anh M.
[3] Về con chung: Chị L và anh M có 02 con chung, hiện nay các cháu đều đang ở cùng chị L. Ly hôn cả chị L và anh M đều xin được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung. Xét thấy nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của chị L, anh M là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên xét thấy chị L có chỗ ở và thu nhập ổn định, bản thân chị hiện nay đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu. Anh Minh hiện nay đang đi làm xa nhà, công việc không ổn định nên không có thời gian gần gũi, chăm sóc con cái. Quá trình giải quyết vụ án, cả cháu N và cháu D đều có nguyện vọng được ở với mẹ trong trường hợp bố mẹ ly hôn. Do đó giao cháu Kiều Minh N, sinh ngày 15/12/2014 và cháu Kiều Khánh D, sinh ngày 13/9/2017 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nên anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Đỗ Thị L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Cho chị Đỗ Thị L ly hôn anh Kiều Văn M.
- Về con chung: Giao chị Đỗ Thị L tiếp tục nuôi dưỡng cháu Kiều Minh N, sinh ngày 15/12/2014 và cháu Kiều Khánh D, sinh ngày 13/9/2017. Anh Kiều Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị L phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000711 ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Kiều Thị Thắng | Lê Minh Hoàng |
| Nguyễn Thị Nghị |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Minh Hoàng |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị L - Kiều Văn M - Ly hôn
