|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 16 – 06 – 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Viết Chiến
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương
- 2. Ông Lê Thế Hải
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 76/2025/ TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/HNGĐ - ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 26/2025/QÐST – HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Mai Thị G, sinh năm 1988
Bị đơn: Anh Lương Văn N, sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã N, Thanh Hóa
Tại phiên toà có mặt nguyên đơn chị G mặt bị đơn anh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Mai Thị G trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh N kết hôn vào năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã T, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa ngày 10 tháng 6 năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, bên cạnh đó anh N ham chơi bời, uống rượu và thường xuyên đánh đập chị, mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại động viên khuyên bảo nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và kể từ tháng 10/2024 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Kể từ khi ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, ai lo bổn phận người đó. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lương Văn N.
- Về con chung: Chị G trình bày trong quá trình chung sống chị và anh N có 01 con chung là cháu: Lương Gia B – Sinh ngày 29 tháng 9 năm 2010, ly hôn nguyện vọng của chị muốn xin được nuôi cháu B và chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và công nợ: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lương Văn N trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định của Pháp luật. Anh N nhận các văn bản tố tụng của Toà án nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa án làm việc. Tại phiên tòa hôm nay anh N đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt.
Tại biên bản xác minh tại thôn T, xã T nơi vợ chồng chị G và anh N sinh sống được trưởng thôn Tam S cho biết, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thôn và địa phương không nắm bắt được chỉ biết hiện nay vợ chồng chị G và N sống không hạnh phúc và đang sống ly thân. Về con chung chị G và anh N có 01 con chung là các cháu Lương Gia B – Sinh ngày 29 tháng 9 năm 2010, hiện nay cháu B đang sống cùng chị G.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ vào các Điều 51,56,81,82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- + Về hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị G được ly hôn với anh Lương Văn N.
- + Về con chung: Giao cháu Lương Gia B cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng của cháu B muốn ở với mẹ), về cấp dưỡng nuôi con chung anh N không có phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh N được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được phép ngăn cản.
+ Về tài sản và công nợ: Chị G và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Chị G phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và sau khi nghe ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Mai Thị G yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh N, anh N cư trú tại xã T, thị xã N, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
Việc tống đạt các văn bản tố tụng trong vụ án. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho các đương sự, nhưng tại các buổi làm việc chỉ có mặt nguyện đơn chị G, bị đơn anh N được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng anh N ký nhận văn bản, tuy nhiên anh N đã không đến Tòa án để làm việc, tại phiên tòa lần thứ nhất anh N vẫn vắng mặt. Tòa án hoãn phiên tòa và tại phiên tòa hôm nay anh N vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị G và anh N: Chị G và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã T,thị xã N), tỉnh Thanh Hóa nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thười gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống bên cạnh đó anh N hay uống rượu và thường xuyên đánh chị G. Trong quá trình giải quyết vụ án anh N không đến Toà án làm việc. Toà án tiến hành xác minh tại địa phương nơi chị G và anh N sinh sống được biết hiện nay chị G và anh N sống không hạnh phúc, vợ chồng đang sống ly thân. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị G và anh N mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay chị G kiên quyết xin ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị G.
[3] Về con chung: Chị G và anh N có 01 con chung là cháu: Lương Gia B – Sinh ngày 29 tháng 9 năm 2010, ly hôn nguyện vọng của chị G muốn xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu B (phù hợp với nguyện vọng của cháu B muốn ở với mẹ) anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng con. Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và hướng tới tương lai tốt đẹp của con. Các quyền lợi đó là điều kiện học tập, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nguyện vọng của con.
Hội đồng xét xử xét thấy: Về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con. Chị G và anh N đều là lao động tự do, tuy nhiên xét theo nguyện vọng của cháu B muốn ở với mẹ nên giao cháu B cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đúng theo quy định của Pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mai Thị G không yêu cầu anh Lương Văn N cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét. Anh N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không được cản trở nhau thực hiện quyền này.
[4] Về tài sản và công nợ: Chị G anh N không đề nghị toà án giải quyết, nên không xét.
[5] Về án phí: Chị G khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[6] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp và có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 điều 147; 227; 228; 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Mai Thị G được ly hôn với anh Lương Văn N;
- Về con chung: Giao cháu Lương Gia B, sinh ngày 29 tháng 09 năm 2010 cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh N không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không được cản trở thực hiện quyền này.
- Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản.
- Án phí: Chị G phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai số 0005974 ngày 10 tháng 03 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 luật Thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Dương Lê Thế Hải |
Phạm Viết Chiến |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Viết Chiến |
Bản án số 31/2025/HNGĐ - ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thười gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống bên cạnh đó anh Nhâm hay uống rượu và thường xuyên đánh chị Giang. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nhâm không đến Toà án làm việc. Toà án tiến hành xác minh tại địa phương nơi chị Giang và anh Nhâm sinh sống được biết hiện nay chị Giang và anh Nhâm sống không hạnh phúc, vợ chồng đang sống ly thân. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị Giang và anh Nhâm mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay chị Giang kiên quyết xin ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị Giang. [3] Về con chung: Chị Giang và anh Nhâm có 01 con chung là cháu: Lương Gia Bảo – Sinh ngày 29 tháng 9 năm 2010, ly hôn nguyện vọng của chị Giang muốn xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bảo (phù hợp với nguyện vọng của cháu Bảo muốn ở với mẹ) anh Nhâm không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng con. Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và hướng tới tương lai tốt đẹp của con. Các quyền lợi đó là điều kiện học tập, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nguyện vọng của con. Hội đồng xét xử xét thấy: Về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con. Chị Giang và anh Nhâm đều là lao động tự do, tuy nhiên xét theo nguyện vọng của cháu Bảo muốn ở với mẹ nên giao cháu Bảo cho chị Giang trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đúng theo quy định của Pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mai Thị Giang không yêu cầu anh Lương Văn Nhâm cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét. Anh Nhâm được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không được cản trở nhau thực hiện quyền này. [4] Về tài sản và công nợ: Chị Giang anh Nhâm không đề nghị toà án giải quyết, nên không xét. [5] Về án phí: Chị Giang khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. [6] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp và có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
