| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15/4/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Trường
Bà Phạm Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Nhung, là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Thông, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ công khai vụ án thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1986; “Vắng mặt”
HKTT: Xã B (nay là thị trấn K), huyện K, tỉnh Hưng Yên. Địa chỉ hiện tại: #102, 35 D-ro 8-gil, S-gu, S, Hàn Quốc.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1983; “Vắng mặt”
HKTT: Xã B (nay là thị trấn K), huyện K, tỉnh Hưng Yên. Hiện đang làm việc tại Hàn Quốc.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Cháu Hoàng Bảo L, sinh ngày 06/01/2008;
- + Cháu Hoàng Bảo L1, sinh ngày 03/5/2009;
Người đại diện theo pháp cho cháu L và cháu L1: Chị Đỗ Thị T, anh Hoàng Văn N (là bố mẹ đẻ của các cháu).
- Người làm chứng:
- + Ông Hoàng Văn L2, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1959; “Vắng mặt"
- + Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1957 và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1964; “Vắng mặt”.
Đều có địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
(Các đương sự đều có đơn giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 17 tháng 12 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày: Chị và anh Hoàng Văn N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên ngày 18 tháng 4 năm 2007. Tháng 8/2012, chị đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc đến khoảng tháng 5/2018 anh N cũng xuất cảnh sang Hàn Quốc để hai vợ chồng cùng chung sống, tập trung làm ăn gửi tiền về nuôi các con. Tuy nhiên, sau khi anh N qua Hàn Quốc thì chỉ được thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc đến khoảng tháng 3/2019 vợ chồng thường mâu thuẫn về cách sống, kinh tế và quan điểm làm cho cuộc sống căng thẳng không hạnh phúc. Từ khoảng tháng 5/2021 đến nay anh N dọn ra ngoài ở, chúng tôi ít khi liên lạc với nhau, anh N vẫn ở Hàn Quốc nhưng đi đâu làm gì và hiện sống cụ thể ở đâu chị không nắm được. Hai vợ chồng chỉ còn liên lạc với các con hiện đang ở Việt Nam. Nay mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn N để hai bên sớm ổn định cuộc sống mới.
Vợ chồng có hai con chung là Hoàng Bảo L, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2008 và Hoàng Bảo L1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2009 đều đang sống cùng ông bà ngoại là ông Đỗ Văn T2 và bà Đỗ Thị C tại thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên nên chị đề nghị được tiếp tục nuôi cả hai con sau khi ly hôn và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Trong thời gian chị chưa về nước chị nhờ bố mẹ chị là ông T2, bà C quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu đến khi chị về Việt Nam. Chị cam kết sẽ tạo mọi điều kiện và không có cản trở gì về việc thăm nom, chăm sóc của anh N và gia đình bên nội đối với hai con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Hoàng Văn N công nhận lời khai của chị Phạm Thị Hoài T3 về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, con chung và trình bày: Anh và chị Đỗ Thị T đăng ký kết hôn năm 2007 tại UBND xã B (nay là UBND thị trấn K), huyện K, tỉnh Hưng Yên, vợ chồng chung sống tại gia đình nhà anh ở Đ, thôn B, xã B (nay là thị trấn K), huyện K, tỉnh Hưng Yên. Tháng 8/2012 chị đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Tháng 5/2018 anh cũng xuất cảnh sang Hàn Quốc để hai vợ chồng cùng chung sống, làm ăn, gửi tiền về nuôi các con. Tuy nhiên sau khi sống chung tại H được một thời gian đầu đến khoảng tháng 3/2019 hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên anh dọn ra ngoài ở riêng, hai vợ chồng anh chị ít khi liên lạc với nhau, hai bên sống ở đâu, làm gì người còn lại không còn quan tâm. Hai vợ chồng chỉ còn liên lạc với các con hiện đang ở Việt Nam. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị T làm đơn xin ly hôn anh đồng ý.
Vợ chồng có hai con chung là Hoàng Bảo L, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2008 và Hoàng Bảo L1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2009. Hiện cả anh và chị T đều ở Hàn Quốc, không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Cuối năm 2023 các cháu đã về ở với ông bà ngoại đến nay nên việc chị T yêu cầu giao 2 con chung cho chị và tạm giao hai cháu cho ông bà ngoại chăm sóc hai cháu đến khi chị T về Việt Nam tôi đồng ý. Về mức cấp dưỡng chị T không yêu cầu anh cấp dưỡng nhưng với tư các là người bó anh sẽ tự có cách sắp xếp, hỗ trợ, quan tâm các con một cách phù hợp.
Về tài sản chung, nợ chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đang sống tại Hàn Quốc nên anh ủy quyền cho bố mẹ anh là ông Hoàng Văn L2, bà Phạm Thị T1 nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Hoàng Bảo L và Hoàng Bảo L1 là con chung của anh Hoàng Văn N và chị Đỗ Thị T trình bày: Bố mẹ cháu hiện đang đi lao động và cư trú tại Hàn Quốc nhưng vẫn liên lạc hỏi thăm, nếu bố mẹ ly hôn cháu L và cháu L1 đề nghị được sống cùng mẹ.
Người làm chứng ông Hoàng Văn L2, bà Phạm Thị T1, là bố mẹ anh Hoàng Văn N trình bày: Chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn lần đầu tại xã B (nay là UBND thị trấn K), huyện K, tỉnh Hưng Yên năm 2007. Hiện anh N đang đi lao động tại Hàn Quốc. Gia đình ông bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh N qua phương tiện truyền thông mạng xã hội. Tuy nhiên hiện anh N đã bỏ ra ngoài làm tự do, không biết rõ tiếng Hàn nên không biết cụ thể hiện đang sinh sống tại địa chỉ nào, anh N không cung cấp cho gia đình được biết. Sau khi nhận được thông báo của Tòa án thụ lý về việc quyết ly hôn giữa chị T với anh N của TAND tỉnh Hưng Yên gia đình ông bà đã thông báo cho anh N biết. Qua trao đổi phản hồi với gia đình, anh N đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật vì tình cảm vợ chồng đã hết và không có tiếng nói chung. Về con chung hiện tại ông bà đã nhiều tuổi, gia đình ông bà đồng ý để chị T được tiếp tục, chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Gia đình tôi sẽ nhận thay anh N các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh N.
Người làm chứng ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Thị C, là bố mẹ chị Đỗ Thị T trình bày: Quá trình kết hôn, sinh sống, mẫu thuẫn như chị T, anh N đã trình bày. Nay chị T làm đơn xin ly hôn ông bà không có ý kiến gì. Về con chung hiện tại cháu đang ở với gia đình ông bà nên ông bà sẽ thay chị T chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu trong thời gian chị T đang ở Hàn Quốc. Chị T và anh N vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình ông bà, chị T vẫn thường xuyên chu cấp, gửi tiền cho hai cháu.
Phòng Q, Công an tỉnh H cung cấp: Anh Hoàng Văn N, sinh ngày 24/12/1983; Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Số hộ chiếu C4465351 đã xuất nhập cảnh nhiều lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 05/9/2019 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N1. Chị Đỗ Thị T, sinh ngày 14/10/1986. Địa chỉ: Đ, thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Số hộ chiếu N2428059, đã xuất nhập cảnh nhiều lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 31/01/2025.
Tại phiên tòa:
Các đương sự đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:
- Việc chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ ký vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và các đương sự đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Các Điều 147, 228, 229 và Điều 238 BLTTDS. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTP TANDTC. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị T, xử: Công nhận chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N thuận tình ly hôn. Về con: Giao chị T nuôi con là Hoàng Bảo L, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2008 và Hoàng Bảo L1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2009; ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác không đặt ra giải quyết. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T chịu toàn bộ án phí sơ thẩm ly hôn.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ, lời trình bầy của các đương sự, và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Theo công văn số 213/PA08 ngày 04 tháng 2 năm 2025 của Phòng Q, Công an tỉnh H đã có căn cứ xác định anh Hoàng Văn N, chị Đỗ Thị T đang sinh sống tại nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp quy định tại Điều 35, và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn. bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo Điều 228, và Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là thị trấn K), huyện K, tỉnh Hưng Yên ngày 18 tháng 4 năm 2007 nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận. Lời khai của anh chị phù hợp với lời khai của người làm chứng đã có căn cứ xác định vợ chồng sau khi kết hôn anh chị không cùng chung sống và đã có thời gian dài mâu thuẫn dẫn đến đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm lo đến nhau chứng tỏ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài anh N đồng ý ly hôn là phù hợp với thực tế hôn nhân nên được chấp nhận.
- Quan điểm về con chung của chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N là tự nguyện phù hợp với nguyện vọng của các con nên sẽ giao chị T nuôi con là Hoàng Bảo L, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2008 và Hoàng Bảo L1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2009. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T đều yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên không xem xét.
Quan điểm của chị T và bố mẹ là ông Đỗ Văn T2, bà Hoàng Thị C1 về việc chăm sóc cháu L, cháu L1 trong thời gian chị T làm việc ở nước ngoài là phù hợp khoản 4 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên theo Điều 46, Điều 47, Điều 62 Bộ luật Dân sự sẽ giao ông T2, bà C1 giám hộ cháu L, cháu L1 cho đến khi chị T có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
- Về tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác: Chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N không yêu cầu nên không giải quyết.
- Quan điểm chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm của chị Hoàng Văn N là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 229, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117, và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình Điều 46, Điều 47, Điều 62 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử công nhận sự thỏa thuận của chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N:
- Quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N thuận tình ly hôn.
- Con chung: Chị Đỗ Thị T trực tiếp nuôi con chưa thành niên là cháu Hoàng Bảo L, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2008 và Hoàng Bảo L1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2009. Công nhận sự tự nguyện của chị Đỗ Thị T không yêu cầu anh Hoàng Văn N cấp dưỡng nuôi con chung. Trên cơ sở lợi ích của con, chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N có quyền yêu cầu thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.
Chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu chị T, anh N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người kia.
Chị Đỗ Thị T và anh Hoàng Văn N hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Giao ông Đỗ Văn T2 bà Đỗ Thị C giám hộ cháu Hoàng Bảo L và cháu Hoàng Bảo L1 cho đến khi chị Đỗ Thị T đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
- Tài sản chung, nghĩa vụ chung, và các vấn đề khác: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị T tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000151 ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; Hoàn trả lại chị T số tiền chênh lệch 150.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị T, anh Hoàng Văn N được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Tú |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con sau ly hôn
