|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13 – 6 – 2025
V/v “Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Trung Thành, Ông Phạm Văn Giới
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: bà Đỗ Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm anhng khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 130/2025/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 04 năm 2025về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2025, giữa:
*Nguyên đơn: Nông Thị N, sinh năm 1990; HKTT: Đội 3, ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
*Bị đơn: Lềnh Hắm L, sinh năm 1987; Trú tại: Đ, ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn chị Nông Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nông Thị N và anh Lềnh H Lùng kết hôn với nhau tự nguyện vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước theo giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 20/08/2019.
Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống; không tôn trọng nhau, anh L hay áp đặt ý kiến của anh L buộc chị N phải nghe theo. Mặt khác, từ khi kết hôn chị N và anh L không sống chung một nhà mà sống mỗi người một nơi (anh L ở nhà bố mẹ, còn chị N ở nhà trọ), chỉ thi thoảng qua lại với nhau nên tình cảm cũng ngày một nhạt dần. Chị N xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lềnh Hắm L.
Về con chung: Vợ chồng chị N, anh L có 01 con nuôi tên là Lềnh Thị Ngọc T, sinh ngày 09/02/2024; Do con là con gái và còn rất nhỏ, từ khi nhận con về nuôi chị N là người trực tiếp trông nom chăm sóc con nên chị N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Hiện tại chị N đang làm công nhân lương tháng ổn định khoảng trên 10 triệu đồng, chị N đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung và các vấn đề khác: Vợ chồng chị N, anh L không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.
* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn Lềnh H trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lềnh Hắm L và chị Nông Thị N kết hôn với nhau tự nguyện vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước theo giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 20/08/2019 như chị N trình bày là đúng.
Vợ chồng sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn, có đôi lúc chưa hiểu nhau nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng; anh L xác định vẫn còn thương vợ, thương con nên vẫn mong muốn được đoàn tụ gia đình để làm ăn nuôi con để cho con đỡ thiệt thòi.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nhưng có nhận nuôi 01 con tên là Lềnh Thị Ngọc T, sinh ngày 09/02/2024; Khi ly hôn anh L đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Anh L hiện nay đang làm vườn rẫy của nhà và làm thuê lúc rảnh rỗi; thu nhập khoảng trên 10 triệu/ tháng và đủ điều kiện để nuôi con.
Trường hợp Tòa án quyết định giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng thì chị N đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng từ 1.800.000 đồng đến 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và các vấn đề khác: Anh L, chị N không có nên không yêu cầu giải quyết
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng và đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS); nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng, đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của chị Nông Thị N. Giao cháu là Lềnh Thị Ngọc T, sinh ngày 09/02/2024; cho chị Nông Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; ghi nhận sự tự nguyện của anh L1 Hắm Lùng về việc cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng từ 1.800.000 đồng đến 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi; Không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung do các đương sự xác định là không có, không yêu cầu.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Nông Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, nuôi con với bị đơn Lềnh Hắm Lùng, các vấn đề khác không yêu cầu. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn, nuôi con" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn Lềnh Hắm L, cư trú tại: Đ, ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
3.Yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị N và anh L1 Hắm Lùng tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước theo giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 20/08/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành. Chị Nông Thị N cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian sau này thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, không đồng quan điểm sống, không có sự yêu thương chia sẻ với nhau trong cuộc sống, từ khi lấy nhau hai người không sống chung với nhau một nhà nên tình cảm vợ chồng cũng nhạt dần; Chị N xác định tình cảm thực sự đã hết, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Lềnh Hắm L. Anh Lềnh Hắm L không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N vì xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh L vẫn còn yêu thương chị N và mong muốn được đoàn tụ cùng chị N. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải nhiều lần và tạo điều kiện về thời gian để anh L và chị N hàn gắn tình cảm nhưng anh L cũng không đưa ra được giải pháp cải thiện tình cảm vợ chồng, hai người vẫn sống ly thân mỗi người một nơi. Tại phiên tòa, chị N vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh L. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh L đã đến mức trầm trọng nên cần áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho chị Nông Thị N được ly hôn với anh Lềnh Hắm L là phù hợp.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị N và anh L không có con đẻ nhưng có chung 01 con nuôi tên là Lềnh Thị Ngọc T, sinh ngày 09/02/2024. Chị N và anh L đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Chị N hiện đang làm công nhân tại khu công nghiệp B, lương tháng ổn định từ 10 triệu đồng trở lên; anh L tuy không đưa ra được căn cứ chứng minh thu nhập hàng tháng của mình nhưng cả hai cũng đều có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, nuôi dạy con trưởng thành. Tuy nhiên, do cháu T là con gái và còn rất nhỏ (mới được 16 tháng 04 ngày tuổi) nên cần sự quan tâm chăm sóc trực tiếp từ người mẹ, mặt khác anh L cũng thừa nhận hai vợ chồng không sống chung một nhà, từ khi nhận nuôi con, cháu T sống với chị N, anh L hàng tuần có qua lại thăm vợ con rồi về; Thoeo quy định tại Điều 81 Luật hông nhân gia đình quy định “... Về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng...”. Như vậy, cần áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, giao cháu Lềnh Thị Ngọc T cho chị N trực tiếp chăm sóc cho đến khi các con trưởng thành là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa anh L đề nghị được cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng từ 1.800.000 đồng đến 2.000.000 đồng nếu trường hợp Tòa án giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Đây là sự tự nguyện của anh L nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong thời gian nuôi con, các bên có quyền đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết việc cấp dưỡng hoặc việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: chị N và anh L thống nhất là không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Các bên phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Nông Thị N được ly hôn với anh Lềnh Hắm L.
2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là Lềnh Thị Ngọc T, sinh ngày 09/02/2024 cho chị Nông Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lềnh H Lùng cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.800.000 đồng cho đến khi cháu T trưởng thành đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong thời gian nuôi con, các bên có quyền đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết việc cấp dưỡng hoặc việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về tài sản chung và các vấn đề khác: Không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nguyên đơn chị Nông Thị N phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000226 ngày 13/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, anh Lềnh Hắm L phải nộp.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên an sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn, giao con cho nguyên đơn nuôi, bị đơn cấp dưỡng nuôi con
