Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10 – 3 – 2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đua.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông (bà) Nguyễn Văn Phúc
  2. Ông (bà) Trần Thị Kim Thắm

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/TL.ST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1/- Nguyên đơn: Vũ Thị H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số D đương D, phường F, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

2/- Bị đơn: Trương Văn S, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Vũ Thị H trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 03/8/2024: Chị và anh Trương Văn S có quen biết tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào ngày 24/4/2013. Sau khi kết hôn sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cải nhau, tính tình không còn hợp nhau nên đã ly thân hơn 04 năm nay. Nay, chị nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn S.

Về con chung: Chị và anh Trương Văn S có 02 con chung cháu tên là Trương Vũ Hồng N (nữ) sinh ngày 20 tháng 5 năm 2014 và cháu Trương Vũ Hoàng A (nam) sinh ngày 17 tháng 3 năm 2016. Hiện nay các cháu đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Chị H có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Quá trình tố tụng bị đơn là anh Trương Văn S vắng mặt nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn. Đối với bị đơn anh Trương Văn S vắng mặt dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trương Văn S.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H. Chấp nhận cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Trương Văn S. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao Trương Vũ Hồng N (nữ) sinh ngày 20 tháng 5 năm 2014 và cháu Trương Vũ Hoàng A (nam) sinh ngày 17 tháng 3 năm 2016 cho chị Vũ Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Do chị H chưa có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh S chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị H và anh Trương Văn S do phát sinh mâu thuẩn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trương Văn S và yêu cầu được nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do anh Trương Văn S có địa chỉ cư trú tại huyện C, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng tại tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vũ Thị H. Đối với bị đơn anh Trương Văn S vắng mặt dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh S.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án:

[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Vũ Thị H Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị Vũ Thị H và anh Trương Văn S tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên xác định hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh, chị phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể hàng gắn được. Anh chị đã ly thân hơn 04 năm đều này chứng minh đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng để mời anh S đến Tòa án hòa giải hàn gắn gia đình nhưng anh không đến. Do đó, có căn cứ chấp nhận cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Trương Văn S.

[3.2] Xét yêu cầu nuôi con chung của chị Vũ Thị H: Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình sống chung chị H và anh S có 02 con chung cháu tên là Trương Vũ Hồng N (nữ) sinh ngày 20 tháng 5 năm 2014 và cháu Trương Vũ Hoàng A (nam) sinh ngày 17 tháng 3 năm 2016. Hiện nay các cháu đang sống chung với chị H nên nhằm ở định chỗ ở và cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử giao Hồng N và cháu Hoàng A cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng. Do chị H chưa có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh S chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Do anh S không trực tiếp nuôi con chung nên chị H phải tạo điều kiện thuận lợi để chị H được thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản.

[3.3] Về tài sản chung: Chị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Về nợ chung: Chị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Vũ Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

[5]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 267, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Trương Văn S.
  2. Về con chung: Giao cháu Trương Vũ Hồng N (nữ) sinh ngày 20 tháng 5 năm 2014 và cháu Trương Vũ Hoàng A (nam) sinh ngày 17 tháng 3 năm 2016 cho chị Vũ Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Trương Văn S chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom con chung cho chị Trương Văn S không ai được quyền ngăn cản.
  3. Về tài sản chung: Chị Vũ Thị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về nợ chung: Chị Vũ Thị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Vũ Thị H đã nộp theo biên lai số 0004808 ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (Chị H đã nộp xong án phí).
  6. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
  7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - CQ THA DS h.Châu Thành A;
  • - VKSND h.Châu Thành A;
  • - UBND xã Tân Phú Thạnh;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC (để công bố);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Đua

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn trong gia đình nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger