|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05-6-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Minh Nguyệt
- Bà Dương Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Quỳnh Bảo Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 631/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1987. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/10/2024 và quá trình tố tụng, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn H1 sau một thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 16 tháng 3 năm 2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được vài năm đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân do tính tình không hợp, ông H1 không quan tâm đến gia đình, vợ con; lười lao động, thường xuyên uống rượu, bia, ghen tuông, chửi mắng xúc phạm bà và cha mẹ bà. Do bà bị ông H1 đánh nhiều lần nên giữa ông H1 và con trai đầu Nguyễn Hoàng N xảy ra xô xát với nhau 02 lần vào năm 2024. Đầu năm 2024, bà nộp đơn xin ly hôn ông H1 nhưng đến tháng 7 năm 2024 bà rút lại đơn khởi kiện, nhằm tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ, để ông H1 có cơ hội thay đổi lối sống tích cực hơn; tuy nhiên, sau khi rút đơn, ông H1 vẫn không thay đổi tính cách nên tháng 10 năm 2024 bà tiếp tục nộp đơn xin ly hôn ông H1. Do sống chung không được nữa nên từ năm 2024, bà và 02 con bỏ về nhà cha mẹ ruột bà sống cho đến nay. Thời gian xa nhau, vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn H1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 19/10/2009, Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 03/4/2012. Hiện các con đang sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà làm thuê, thu nhập bình quân mỗi tháng 7.000.000 đồng nên đủ khả năng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Văn H1; về con chung, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 19/10/2009, Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 03/4/2012; nguyện vọng của Hoàng N và Hoàng P đều mong muốn được ở với mẹ. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn có địa chỉ thường trú tại Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình tố tụng, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Bị đơn nhưng Bị đơn không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ của Nguyên đơn đã nộp. Tại phiên tòa, Bị đơn tiếp tục vắng mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Điều này chứng tỏ Bị đơn đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Nguyễn Văn H1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Diệu H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Nguyễn Văn H1. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bạo lực gia đình, từ đó gia đình không còn hạnh phúc, bà H cùng các con về nhà mẹ ruột bà sống, vợ chồng ly thân, không quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống trong một thời gian dài. Tình trạng hôn nhân hiện nay của ông, bà được chính quyền địa phương xác nhận. Quá trình tố tụng, ông H1 không đến Tòa tham gia hòa giải, xét xử... Điều này cho thấy ông H1 có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Chứng tỏ tình cảm vợ chồng bà H ông H1 hiện không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H là phù hợp với Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về giao người trực tiếp nuôi con chung:
Xét yêu cầu của Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Hoàng N, Nguyễn Hoàng P.
Quá trình chung sống, vợ chồng ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 19/10/2009, Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 03/4/2012. Xét thấy, từ ngày vợ chồng không còn sống chung, trẻ Hoàng N và Hoàng P sống ổn định với mẹ, sức khoẻ cũng như học tập đều đảm bảo, hai trẻ có nguyện vọng tiếp tục ở cùng mẹ. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con cũng như xem xét đến nguyện vọng của 02 trẻ. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu về giao người trực tiếp nuôi con chung của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diệu H được ly hôn ông Nguyễn Văn H1.
2. Về giao người trực tiếp nuôi con:
Bà Nguyễn Thị Diệu H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 19/10/2009, Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 03/4/2012.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung; không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
3. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003261 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T. Bà Nguyễn Thị Diệu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
