|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST Ngày 04 tháng 4 năm 2025 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Viết Anh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm
Bà Bùi Thị Hảo
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLST- HNGĐ ngày 14/01/2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 05/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng Thế Đ, sinh ngày 22/6/1996; Giấy chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh P cấp ngày 27/7/2015; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 24/8/2023; địa chỉ: Khu B, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Đặng Thị Thúy Q, sinh ngày 19/4/1998; Giấy chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh P cấp ngày 28/5/2016; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: Khu B, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang sinh sống tại Campuchia (không rõ địa chỉ cụ thể). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn anh Hoàng Thế Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đặng Thị Thúy Q đăng ký kết hôn ngày 09/10/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc tại khu B, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Từ năm 2020 đến tháng 6/2023, anh đi lao động tại Đài Loan. Năm 2021, giữa anh chị bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn khi anh phát hiện chị Q có tình cảm ngoài luồng với người đàn ông khác trong thời gian anh lao động ở nước ngoài; nguyên nhân mâu thuẫn là vì khoảng cách địa lý khiến vợ chồng xa mặt cách lòng, thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm và chia sẻ hàng ngày với nhau. Sau khi xảy ra sự việc, chị Q đã về nhà bố mẹ đẻ ở tại khu F, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ rồi sang lao động tại Campuchia và cắt đứt liên lạc với anh. Cũng kể từ đó, tình cảm giữa anh chị không thể hàn gắn được. Mâu thuẫn của anh chị ngày càng trầm trọng, dù đã được hai bên gia đình và bạn bè hết sức khuyên can, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng anh chị ngày càng xa cách, đến nay anh không còn tình cảm vợ chồng với chị Q. Hiện nay, nhận thấy hôn nhân của mình đã rơi vào bế tắc, mâu thuẫn đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa, níu kéo cũng chỉ đem lại đau khổ và tổn thương cho hai bên. Vì vậy, anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Q.
- Về con chung: Anh và chị Q chỉ có 01 con chung là cháu Hoàng Khôi N, sinh ngày 23/10/2019. Ngoài ra, anh chị không có con chung nào khác. Hiện cháu N đang sống cùng với anh. Anh đề nghị Tòa án tuyên giao cháu N cho anh trực tiếp nuôi sau khi ly hôn cho đến cháu Nguyên thành N1 và lao động tự túc được.
- Về cấp dưỡng: Anh không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân: Anh xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và các nghĩa vụ khác: Anh xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thân nhân của chị Đặng Thị Thúy Q là ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu I, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là cha đẻ của chị Q) trình bày:
Con gái và con rể ông là chị Q và anh Đ đăng ký kết hôn ngày 09/10/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Sau một thời gian chung sống, giữa các con ông xảy ra nhiều mâu thuẫn kể cả trong thời gian ở Việt Nam cũng như thời gian đi lao động tại nước ngoài, đặc biệt kể từ khi anh Đ đi làm việc tại Đài Loan vào tháng 6/2023 thì mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng do sự khác biệt về quan điểm sống và khoảng cách địa lý dẫn đến thiếu sự quan tâm hàng ngày lẫn nhau. Giữa chị Q và anh Đ chỉ có 01 con chung là cháu Hoàng Khôi N, sinh ngày 23/10/2019; hiện cháu N đang ở cùng anh Đ.
Năm 2023, chị Q đi làm việc tại Campuchia. Từ đó cho đến nay, chị Q chỉ về phép thăm nhà vào trước Tết âm lịch năm 2025 rồi lại tiếp tục sang Campuchia làm việc theo hợp đồng lao động dài hạn. Hiện nay, chị Q vẫn đang làm việc tại Campuchia. Giữa ông và chị Q vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại và mạng xã hội để hỏi thăm về tình hình sức khỏe, đời sống hàng ngày của nhau. Ông đã hỏi chị Q về địa chỉ cụ thể của chị Q tại Campuchia nhưng chị Q không cho ông biết nên ông không thể cung cấp được cho Tòa án. Ông đã thông báo việc anh Đ xin ly hôn chị Q cho chị Q biết nhưng chị Q không nói gì.
Đối với việc nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ông đồng ý nhận thay, cam kết thông báo ngay nội dung văn bản và giao lại tận tay các văn bản tố tụng khi có điều kiện giao cho chị Q.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Thế Đ. Cho anh Hoàng Thế Đ được ly hôn chị Đặng Thị Thúy Q.
Về con chung: Giao cháu Hoàng Khôi N, sinh ngày 23/10/2019 cho anh Hoàng Thế Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên và lao động tự túc được. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Chị Đặng Thị Thúy Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Anh Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Hoàng Thế Đ nộp đơn khởi kiện ly hôn chị Đặng Thị Thúy Q tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trong đơn khởi kiện, anh Đ trình bày hiện chị Q đang sống và làm việc ở Campuchia. Tại văn bản số 1537/QLXNC – Đ1 ngày 17/12/2024 của Phòng Q1 – Công an tỉnh P xác nhận chị Đặng Thị Thúy Q đã xuất nhập cảnh nhiều lần, xuất cảnh lần gần nhất ngày 27/11/2024 và chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quan hệ tranh chấp được xác định trong vụ án là quan hệ “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Hoàng Thế Đ và chị Đặng Thị Thúy Q là hôn nhân hợp pháp. Do khoảng cách địa lý trong quá trình chung sống khiến vợ chồng thiếu sự quan tâm và chia sẻ hàng ngày với nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh Đ được ly hôn với chị Q.
Chị Q hiện đang ở Campuchia, anh Đ không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị Q ở nước ngoài cho Tòa án và có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập địa chỉ của chị Q tại nước ngoài. Qua xác minh, ông Đặng Ngọc T là cha đẻ của chị Q xác nhận giữa anh Đ và chị Q mâu thuẫn đã kéo dài nhiều năm, hiện chị Q đang ở Campuchia và vẫn thường xuyên liên lạc với ông nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể nên ông không cung cấp được cho Tòa án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa anh Đ và chị Q mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh Đ xin ly hôn chị Q là có căn cứ, được chấp nhận.
[3] Về con chung: Hội đồng xét xử thấy rằng anh Đ và chị Q có 01 con chung là cháu Hoàng Khôi N, sinh ngày 23/10/2019.
Hiện nay, cháu N đang ở với anh Đ. Anh Đ có đề nghị giao cháu N cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Xét thấy chị Q đang ở nước ngoài còn cháu N đang sống ổn định với anh Đ tại Việt Nam nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Đ, tuyên giao cháu N cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn cho đến khi cháu N thành niên và lao động tự túc được.
[4] Về cấp dưỡng: Anh Đ không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự cần được ghi nhận.
[5] Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Do anh Đ không yêu cầu và chị Q không có trình bày tại Tòa án nên Tòa án không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 469, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 1 Điều 228, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Thế Đ. Xử cho anh Hoàng Thế Đ được ly hôn chị Đặng Thị Thúy Q.
-
Về con chung:
Giao cháu Hoàng Khôi N, sinh ngày 23/10/2019 cho anh Hoàng Thế Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên và lao động tự túc được.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Chị Đặng Thị Thúy Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Anh Hoàng Thế Đ phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Xác nhận anh Hoàng Thế Đ đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0000490 ngày 08/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Viết Anh |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thế Đ khởi kiện ly hôn Đặng Thị Thúy Q
