|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 04-4-2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán– Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Hồng Sơn
2. Bà Nguyễn Thị Bích Lam
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa– Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/3/2025, đối với các đương sự,
- - Nguyên đơn: Bà Cao Thị Xuân H, sinh năm 1976
- Địa chỉ: Số D đường T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- - Bị đơn: ông Trần Văn H1 – sinh năm 1977
- Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn vắng mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện ly hôn, nguyên đơn bà Cao Thị Xuân H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông H1 quen biết và tìm hiểu được một thời gian thì quyết định chung sống với nhau vào năm 1997, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào năm 1997. Sau khi kết hôn vợ chồng sống bên nhà bà tại K+hu phố T, thị trấn P, T, Bình Thuận. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, nhưng vì con cái còn nhỏ nên bà bỏ qua. Tuy nhiên mấy năm gần đây vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn cải vã, nhiều lần bà góp ý để ông H1 thay đổi sửa chữa nhưng ông H1 không thay đổi, tính nào tật ấy, gia trưởng và thường xuyên đánh đập bà. Mâu thuẫn gần đây nhất là vợ chồng cãi nhau, ông H1 về nhà mẹ ruột sống. Hiện nay, vợ chồng không còn tình cảm. mạnh ai nấy sống. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn H1.
- + Về con chung: Bà và ông Trần Văn H1 có 02 (hai) con chung tên: Trần Cao Việt L, sinh năm: 1998; Trần Cao Gia L1, sinh năm: 2000 (cả hai con đã trưởng thành).
- +Tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn- ông Trần Văn H1 có lời khai vào ngày 14/02/2025 tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong: Ông xác định phần trình bày của bà H cũng có phần đúng về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng không lớn. Trong quá trình chung sống hơn 20 năm vợ chồng ông có cãi nhau thỉnh thoảng ông cũng đánh bà H nhưng chỉ nhẹ. Thời gian gần đây vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn trầm trọng nhất thời điểm gần đây cách đây 01 tháng vợ chồng cãi nhau, ông về mẹ ruột sống. Hiện nay, ông xác định vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý ký vào hồ sơ ly hôn vì nhận thấy vợ chồng đã lớn nếu không còn yêu thương nhau thì cứ mạnh ai nấy sống, nếu ký vào thì sẽ mang tiếng là bỏ vợ, vì vậy ông yêu cầu Tòa án cứ giải quyết theo quy định pháp luật. Do tôi bận công việc nên không tham gia các buổi làm việc do Tòa án triệu tập, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử, tôi đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông, ông không khiếu nại về sau.
- + Về con chung: Ông và bà H có 02 con chung là: Có 02 con chung: Trần Cao Việt L, sinh năm 1998 và Trần Cao Gia L1, sinh năm 2000. Cả hai con đã trưởng thành và có cuộc sống riêng.
- +Tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị tuyên xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về án phí: Bà Cao Thị Xuân H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Cao Thị Xuân H có đơn đề nghị giải quyết việc hôn nhân giữa bà H với ông Trần Văn H1 (có nơi cư trú tại Khu phố T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận), nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong. Ông Trần Văn H1 đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải lần 2 và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Cao Thị Xuân H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn Trần Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bà Cao Thị Xuân H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn H1. Bà H kết hôn với ông H1 trên cơ sở tình yêu tự nguyện, được tự do tìm hiểu, không bị ai lừa dối hay ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 321, quyển số 01, ngày 07/12/1997. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của bà H với ông H1 do Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận cấp và bà H giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Bà H trình bày quá trình chung sống vợ chồng bà và ông H1 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mấy năm gần đây vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn cải vã, ông Hoàng gia T và thường xuyên đánh đập bà. Hiện nay, vợ chồng không còn tình cảm, mạnh ai nấy sống, ông H1 cũng thống nhất với phần trình bày bà H về tình trạng hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo cho ông H1 đến giải quyết nhưng ông H1 không chấp hành, điều này chứng tỏ ông H1 không có thiện chí và không có mong muốn hàn gắn gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông H1 không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cao Thị Xuân H.
[3] Về con chung: Bà Cao Thị Xuân H và ông Trần Văn H1 có 02 (hai) con chung tên: Trần Cao Việt L, sinh năm: 1998; Trần Cao Gia L1, sinh năm: 2000 (cả hai con đã trưởng thành).
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Cao Thị Xuân H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong là có cơ sở chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Cao Thị Xuân H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lý lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điểm a, Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cao Thị Xuân H đối với ông Trần Văn H1. Giấy chứng nhận kết hôn số: 321, quyển số 01, ngày 07/12/1997 của Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Bà Cao Thị Xuân H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007316 ngày 02/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong.
- Quyền kháng cáo: Bà Cao Thị Xuân H; Ông Trần Văn H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc niêm yết Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kiêm Uyên |
Bản án số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 31/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cao Thị Xuân H đối với ông Trần Văn H1. Giấy chứng nhận kết hôn số: 321, quyển số 01, ngày 07/12/1997 của Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Về án phí: Bà Cao Thị Xuân H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007316 ngày 02/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong. 3. Quyền kháng cáo: Bà Cao Thị Xuân H; Ông Trần Văn H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc niêm yết Bản án.
