Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-PT

Ngày 16/12/2025

"V/v: Tranh chấp ly hôn,

con chung, tài sản chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giang

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Hữu Truyền và bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Dịu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 28/2025/TLPT-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc " Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung, đòi lại tài sản thuộc sở hữu chung.”

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày: 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 21/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988.
  • Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nay là thôn N, xã C, tỉnh Thái Nguyên) (Có mặt)
  • - Bị đơn: Anh Nông Quang T1, sinh năm 1985.
  • Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nay là thôn N, xã C, tỉnh Thái Nguyên) (Có mặt)
  • - Người có quyền lợi liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Lường Thị L, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nay là thôn N, xã C, tỉnh Thái Nguyên) (Có mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn trình bày:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn, chị Nguyễn Thị T và anh Nông Quang T1 được tự nguyện tìm hiểu nhau và được gia đình hai bên tổ chức cưới theo phong tục địa phương năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình chung sống chị và anh T1 thường xuyên mâu thuẫn do anh T1 thường xuyên rượu chè không chăm lo phát triển kinh tế gia đình; đánh mắng, chửi chị, được thôn và Công an xã giải quyết nhưng vẫn không khắc phục được. Từ tháng 02 năm 2023 đến nay chị và anh T1 sống ly thân, anh chị không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Chị T cương quyết xin ly hôn.

1.2. Về con chung: Chị và anh T1 có 02 con chung là Nông Quỳnh C, sinh ngày 28/8/2008 và Nông Anh K, sinh ngày 15/9/2019. Con Nông Quỳnh C khoẻ mạnh và phát triển bình thường, hiện nay con C đang ở cùng với anh T1 và bà nội; con Nông Anh K bị khuyết tật bẩm sinh về nghe, nói hiện nay đang ở cùng với chị tại nhà bố đẻ chị. Khi Ly hôn chị có nguyên vọng được nuôi con bé Nông Anh K, sinh ngày 15/9/2019, còn anh T1 nuôi con Nông Quỳnh C, sinh ngày 28/8/2008, không anh phải cấp dương nuôi con chung cho bên nào.

1.3. Về tài sản chung:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử chị T có yêu cầu anh T1 chia cho chị ½ giá trị bằng tiền mặt của các tài sản gồm: 02 con lợn nái có tổng trọng lượng là 250kg; 02 con lợn thịt có tổng trọng lượng 100 kg; 30 bao thóc hạt khô loại Tạp giao 1 và đoàn kết, gạo nếp; 10 bao ngô hạt khô có trọng lượng 50kg/bao; 20 kg gà ta bao gồm gà thiến, gà trống, gà mẹ, gà con; yêu cầu bà L chia cho chị T tiền trồng cây keo; tiền trâu; tiền đàn lợn. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T xin rút lại yêu cầu trên và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4. Về công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn trình bày:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện và thời gian kết hôn thì anh T1 nhất trí với trình bày của chị T.

2.2. Về con chung: Anh Tú nhất trí với trình bày của chị T về con chung và nhất trí với quan điểm của chị T về việc giải quyết nuôi con chung sau ly hôn, cụ thể: Anh Tú được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con Nông Quỳnh C đến khi con C đủ 18 tuổi; chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con Nông Anh K đến khi con K đủ 18 tuổi; không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng.

2.3. Về tài sản chung: Trong thời gian chuẩn bị xét xử anh T1 yêu cầu chị T trả cho anh T1 ½ tổng số tiền lương anh T1 đã giao chị T từ 7.000.000đ đến 8.000.000đ hàng tháng bắt đầu từ năm 2016 đến năm 2018; tiền bán 01 con trâu, tiền bán lợn nhiều lần. Ngoài ra, còn có 01 chiếc xe mô tô có trị giá hiện nay là 18.000.000đ do chị T2 quản lý sử dụng, nay ly hôn thì chị T được quyền sở hữu không 01 chiếc xe mô tô nói trên và trả cho anh T1 ½ trị giá chiếc xe mô tô bằng tiền mặt cho anh T1. Tại phiên tòa, anh T1 không yêu cầu tòa án giải quyết đối với các tài sản trên.

2.4. Về công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Người có quyền lợi có yêu cầu độc lập, bà Lường Thị L trình bày:

Chồng bà là Nông Quang T3, sinh ngày 02/5/1962, chết ngày 07/01/2022. Trước khi ông T3 chết thì bà và ông T3 đã sống ly thân được 6 tháng, sau khi ông T3 chết thì bà về sống chung với vợ chồng chị T.

Khi ông T3 còn sống, ngày 21/4/2021 ông có Tuyến giao số tiền 25.000.000₫ bán ngựa cho chị T quản lý để chi dùng, chăm sóc sức khỏe của ông T3. Ngày 07/01/2022 ông T3 chết, nên số tiền 25.000.000₫ vẫn do chị T quản lý, cất giữ. Tiền tang lễ, làm lễ 40 ngày và lễ mãn tang cho ông T3 sau khi trừ đi các chi phí còn 105.000.000đ giao cho chị T quản lý để sử dụng chi trả lại số tiền tương ứng cho gia đình những người đã đến phúng viếng ông T3 nếu họ chết và nhất trí với việc chị T đã chi dùng số tiền phúng viếng ông T3 vào các công việc khác của gia đình.

Trong đơn khởi kiện yêu cầu độc lập, bà L yêu cầu chị T phải trả lại cho bà L tổng số tiền gốc là 130.000.000đ không yêu cầu tính lãi, gồm các khoản tiền: 25.000.000đ tiền bán ngựa của ông T3 và 105.000.000đ tiền thu qua việc mọi người đến phúng viếng, làm lễ 40 ngày và lễ mãn tang cho ông T3.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên hòa giải bà L yêu cầu chị T phải trả cho bà L số tiền 75.400.000₫ sau khi đã trừ đi các khoản phải thanh toán 30.100.000₫ chi cho đám tang ông T3; số tiền 8.500.000đ chi tiền lộc cho các con cháu.

Sau khi phiên hòa giải kết thúc, bà L thay đổi yêu cầu về tổng số tiền giao chị T quản lý và yêu cầu đối với số tiền còn lại, cụ thể: Tổng số tiền giao chị T2 quản lý là 161.650.000₫ gồm các khoản: 25.000.000đ, tiền ông T3 giao; tiền đám hiếu ông T3 là 89.000.000đ; tiền thu từ lễ 40 ngày cho ông T3 là 8.400.000đ; tiền thu từ lễ mãn tang ông T3 là 39.250.000đ. Tổng số tiền đã chi là 75.350.000₫ gồm các khoản: Tiền làm đám tang cho ông T3 là 30.100.000đ; tiền làm lễ 40 ngày và mãn tang cho ông T3 là 36.750.000đ; chi tiền lộc cho các con cháu là 8.500.000đ; chị T đi phúng viếng người khác là 1.400.000đ; tiền chi cho bà L đi khám bệnh là 3.000.000đ. Bà L yêu cầu chị T phải trả là 81.900.000₫.

Tại phiên tòa, bà L và chị T, anh T1 thống nhất các khoản tiền giao cho chị T quản lý là tiền chung của các thành viên trong gia đình gồm có bà L, anh T1, chị T và tổng số tiền còn lại sau khi đã trừ hết cho các khoản đã chi của gia đình là 74.000.000đ. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết chị T phải có nghĩa vụ trả cho bà L 1/3 của số tiền chung 74.000.000đ tương ứng với số tiền 24.666.000đ.

4. Đối với yêu cầu độc lập của bà Lường Thị L, chị T có ý kiến: Nhất trí tổng thu từ tiền ngựa của ông Nông Quang T3, tiền đám tang, lễ 40 ngày và mãn tang ông T3 là 161.650.000đ. Trong đó có 136.650.000đ thu từ tiền phúng viếng, tiền 40 ngày, tiền mãn tang ông T3. Xác định số tiền 136.650.000đ được giao cho chị T quản lý là tiền chung của các thành viên gia đình. Nay bà L yêu cầu chị phải có nghĩa vụ trả 1/3 của số tiền 74.000.000₫ là 24.666.000đ không tính lãi, chị không nhất trí chia cho bà L. Vì trong tổng số tiền 74.000.000đ, chị đã chi phí cho sinh hoạt gia đình trước khi ông T3 còn sống (ăn) 5 người và số tiền còn lại là 49.000.000₫ chị T đã chi cho sinh hoạt gia đình 03 bữa/5 người/ngày từ khi bà L trở về sống chung trong thời gian từ ngày 07/01/2022 (Ngày ông T3 chết) đến khi chị T ly thân vào tháng 02/2023, (thậm trí là còn thiếu). Do vậy, không còn tiền bán ngựa và tang lễ, 40 ngày và mãn tang ông T3.

5. Đối với yêu cầu độc lập của bà L, anh T1 trình bày: Số tiền 136.650.000₫ được giao cho chị T quản lý là tài sản chung của các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, anh T1 không có ý kiến gì về số tiền 136.650.000đ, sau khi đã trừ đi các khoản phải chi phí còn lại là 74.000.000đ. Anh Tú nhất trí với quan điểm giải quyết của bà L là chị T có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền 24.666.000đ. Anh Tú không có yêu cầu gì khác.

6. Tại văn bản trình bày nguyện vọng, biên bản lấy lời khai, cháu Nông Quỳnh C trình bày: Nay cha mẹ cháu ly hôn thì cháu C xin được ở với anh T1.

7. Tòa án xác minh mâu thuẫn vợ chồng của chị T và anh T1, kết quả: Chị T và anh T1 có mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T1 thường xuyên uống rượu về có lời nói xúc phạm chị T.

8. Chị Nông Thị O trình bày: Chị là con đẻ của bà L và ông T3. Sau khi ông T3 chết thì số tiền phúng viếng giao cho chị T quản lý là 89.000.000₫ để chăm sóc mẹ chị và lo việc gia đình như sinh hoạt ăn uống, đám hiếu của hàng xóm. Chị không có ý kiến gì đối với khoản tiền phúng viếng, tiền lễ thu từ lễ 40 ngày và mãn tang của ông T3.

Với nội dung nêu trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T với anh Nông Quang T1 và bác toàn bộ yêu cầu độc lập đòi lại tài sản thuộc sở hữu chung của bà Lường Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nông Quang T1.
  2. Quan hệ hôn nhân giữa các đương sự chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về con chung:
    • - Giao con chung Nông Quỳnh C, sinh ngày 28/8/2008 cho anh Nông Quang T1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con đến khi con chung đủ 18 tuổi.
    • - Giao con chung Nông Anh K, sinh ngày 15/9/2019 cho chị Nguyễn Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con đến khi con chung đủ 18 tuổi.
    • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nông Quang T1 và chị Nguyễn Thị T không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên việc cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết.
    • Trường hợp con chung Nông Anh K đã thành niên mà không tự lao động nuôi sống được bản thân hoặc không có tài sản riêng để tự nuôi sống bản thân thì tiếp tục giao con chung Nông Anh K cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung Nông Anh K có khả năng lao động theo kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
  4. Về tài sản chung và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
  5. Về yêu cầu độc lập: Bác toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Lường Thị L với chị Nguyễn Thị T.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/9/2025 bà Lường Thị L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết cho bà số tiền 130.000.000 đồng, bao gồm số tiền bán ngựa là 25.000.000 đồng và số tiền phúng viếng 105.000.000 đồng.

Tại phiên toà phúc thẩm bà Lường Thị L thay đổi nội dung kháng cáo: Không yêu cầu chị T phải trả số tiền 25.000.000₫ mà ông T3 đã bán ngựa và giao cho chị T. Yêu cầu chị T phải trả cho bà số tiền 30.000.000₫ bao gồm tiền phúng viếng, tiền làm lễ 40 ngày và tiền làm lễ mãn tang cho ông T3.

Chị Nguyễn Thị T đồng ý với yêu cầu của bà L. Chị có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 30.000.000₫ bao gồm tiền phúng viếng, tiền làm lễ 40 ngày và tiền làm lễ mãn tang cho ông T3.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T và bà L thỏa thuận mỗi người chịu một nửa án phí dân sự sơ thẩm. Bà L đề nghị Hội đồng xét xử cho bà được miễn án phí dân sự sơ thẩm vì bà là người cao tuổi.

Ý kiến của anh Nông Quang T1: Anh không có yêu cầu gì với số tiền phúng viếng, tiền làm lễ 40 ngày và tiền làm lễ mãn tang cho bố anh. Anh nhất trí với thỏa thuận của chị T với mẹ anh là bà Lường Thị L.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng các Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lường Thị L và phần án phí sơ thẩm. Công nhận sự tự nguyện thoả thuận của bà Lường Thị L và chị Nguyễn Thị T tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.

  1. [1] Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Lường Thị L làm trong thời hạn luật định, nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Đủ điều kiện để được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Xét kháng cáo của bà Lường Thị L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Tại phiên toà phúc thẩm bà Lường Thị L thay đổi nội dung kháng cáo, không yêu cầu chị Nguyễn Thị T phải trả cho bà số tiền 25.000.000₫ do ông T3 là chồng của bà khi còn sống bán ngựa và giao cho chị T. Bà chỉ yêu cầu chị Nguyễn Thị T trả cho bà số tiền 30.000.000đồng bao gồm tiền phúng viếng, tiền làm lễ 40 ngày và tiền làm lễ mãn tang cho ông T3. Chị Nguyễn Thị T nhất trí với yêu cầu của bà Lường Thị L. Việc thoả thuận của bà Lường Thị L và chị Nguyễn Thị T là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cần công nhận sự thoả thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
  3. [4]. Về án phí:

    4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    • - Đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết và quyết định chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nguyên đơn và bị đơn trong vụ án không có kháng cáo. Do vậy, án phí ly hôn sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
    • - Đối với phần án phí theo yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lường Thị L: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Lường Thị L và chị Nguyễn Thị T đã thỏa thuận mỗi người chịu ½ án phí, bà Lường Thị L xin được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi. Do vậy, cần buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và miễn án phí dân sự sơ thầm đối với bà Lường Thị L (là người cao tuổi có yêu cầu được miến án phí) là phù hợp và đúng pháp luật.

    4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Lường Thị L có yêu cầu độc lập kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L và chị T thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết yêu cầu độc lập. Do vậy, bà L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà L là người cao tuổi có đề nghị được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Do đó, cần miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà L là phù hợp và đúng pháp luật.

  4. [5] Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên theo hướng công nhận sự tự nguyện thoả thuận của bà Lường Thị L và chị Nguyễn Thị T tại phiên tòa phúc thẩm và phần án phí là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án. Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lường Thị L và án phí dân sự. Công nhận sự thoả thuận của bà Lường Thị L và chị Nguyễn Thị T như sau:

  1. Chị Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho bà Lường Thị L số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) bao gồm tiền phúng viếng, tiền làm lễ 40 ngày và tiền làm lễ mãn tang cho ông T3.
  2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành được khoản tiền nói trên, thì phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gia chậm trả cho đến khi thi hành xong. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thoả thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

  3. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Chị Nguyễn Thị T phải chịu 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
      • - Miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với bà Lường Thị L (Do bà L là người cao tuổi). Hoàn lại cho bà Lường Thị L số tiền 3.250.000₫ (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm, theo biên lai số 0003697 ngày 13/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Na Rì.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm:
      • - Miễn án phí dân sự phúc thẩm đối với bà Lường Thị L (Do bà L là người cao tuổi). Hoàn lại cho bà Lường Thị L số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thầm đã nộp theo biên lai thu số 0001311 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND khu vực 8 - Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS khu vực 8 – Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Giang

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HNGĐ-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung

  • Số bản án: 31/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 31 TH T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger