|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN Số: 31/2025/DS-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Nghệ An, ngày 30 tháng 09 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng
- - Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hữu Tường – Bà Nguyễn Thị Nhàn
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Chu Văn Khoa – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 09 năm 2025, tại Trụ sở tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QÐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QÐST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P1(O)
- Địa chỉ: 41&45 đường L, phường S, TP ..
- Người đại diện theo pháp luật: ông Trịnh Văn T – Chủ tịch Hội đồng quản trị
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Phi H - Giám đốc P2
- Ông Lê Phi H ủy quyền lại cho: ông Đậu Trung H1 – Cán bộ Ngân hàng TMCP P1.(Có mặt)
- - Bị đơn: + Bà Phạm Thị T1 - sinh năm 1988; Ông Phạm Xuân P – sinh năm 1984;
- Đều trú tại: xóm T, xã B, tỉnh Nghệ An.(Vắng mặt lần 2 tại phiên toà không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như lời khai tại phiên tòa hôm nay, Đại diện theo ủy quyền của người Nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP P1(viết tắt là Ngân hàng O) và bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã ký kết các Hợp đồng tín dụng sau:
- - Hợp đồng tín dụng số: ST23024935/2023/PVT/HĐTD ký ngày 28/08/2023 và Khế ước nhận nợ số: ST24026486/2024/PVT/KUNN ngày 27/06/2024 theo đó Ngân hàng O cho bà T1, ông P vay số tiền: 1.300.000.000đ(Một tỷ ba trăm triệu đồng); Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung kinh doanh vật liệu xây dựng; Thời hạn cho vay: 5 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân. Lãi suất cho vay trong hạn: 7,9%/năm suốt thời gian vay; Lãi quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
- - Hợp đồng tín dụng số: ST240231417/2023/PVT/HĐTD ký ngày 23/07/2024 và Khế ước nhận nợ số: ST24031417/2024/PVT/KUNN ngày 23/07/2024 theo đó Ngân hàng O cho bà T1, ông P vay số tiền: 600.000.000đ(Sau trăm triệu đồng); Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung kinh doanh vật liệu xây dựng; Thời hạn cho vay: 5 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân. Lãi suất cho vay trong hạn: 7,9%/năm suốt thời gian vay; Lãi quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
Bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã ký Hợp đồng thế chấp bảo đảm cho các khoản vay nói trên bằng:
- Tài sản 1: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất tại thửa số 138, tờ bản đồ số 32, tại địa chỉ xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 027760, số vào sổ cấp GCN 03602 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cấp ngày 30/06/2023 cấp cho ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T1. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng O theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST23024935/2023/PVT/HĐTC ký ngày 28/08/2023, số công chứng 1197, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C (số B, QL46, K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An) công chứng ngày 28/8/2023.
- Tài sản 2: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất tại thửa số 112, tờ bản đồ số 39, tại địa chỉ xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 141038, số vào sổ cấp GCN 04152 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cấp ngày 13/06/2024, cập nhật đính chính thay đổi ngày 17/07/2024 cấp cho ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T1. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng O theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST24031417/2024/PVT/HĐTC ký ngày 23/07/2024, số công chứng 1373, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C (số B, QL46, K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An) công chứng ngày 23/7/2024.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng số: ST23024935/2023/PVT/HĐTD ký ngày 28/08/2023 và Khế ước nhận nợ số: ST24026486/2024/PVT/KUNN ngày 27/06/2024, bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã vi phạm nghĩa vụ từ ngày 27/11/2024 nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn. Đối với Hợp đồng tín dụng số: ST240231417/2023/PVT/HĐTD ký ngày 23/07/2024 và Khế ước nhận nợ số: ST24031417/2024/PVT/KUNN ngày 23/07/2024 bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã vi phạm nghĩa vụ đầu tiên từ ngày 05/12/2024 nên ngày 24/12/2024 toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn.
Tính đến ngày 06/01/2025 bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã trả cho Ngân hàng O số tiền là: Tiền gốc: 17.263.000 đồng; tiền lãi: 51.936.526 đồng; Tổng bà T1, ông P đã trả là: 69.199.526 đồng;
Quá trình xử lý khoản vay, Ngân hàng O đã nhiều lần đôn đốc nhưng bà T1, ông P vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy Ngân hàng O yêu cầu Tòa án buộc bà T1, ông P phải có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ các khoản nợ trên cho Ngân hàng OCB tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/09/2025 theo các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ với tổng số tiền là: 2,079,432,764 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1,882,737,000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 10,982,162 đồng; Nợ lãi quá hạn: 185,713,602 đồng.
Trường hợp bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký kết thì Ngân hàng O có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST23024935/2023/PVT/HĐTC ký ngày 28/08/2023, số công chứng 1197, quyển số: 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/8/2023 tại Văn phòng C và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: ST24031417/2024/PVT/HĐTC ký ngày 23/07/2024, số công chứng 1373, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/07/2024 tại văn phòng C để thu hồi các khoản nợ.
Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ thì bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng O cho đến khi trả hết các khoản nợ.
Quá trình xem xét thẩm định tại chổ đối với tài sản đảm bảo cho khoản vay cụ thể như sau:
*Về đất đai: Tài sản 1: Sau khi tiến hành đo đạc kiểm tra, xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số: 138, tờ bản đồ số 32; Địa chỉ thửa đất: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An(Nay là xóm T, xã B, tỉnh Nghệ An), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 027760, số vào sổ cấp GCN 03602 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cấp ngày 30/06/2023 cấp cho ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị Thanh T2 rằng: Diện tích của thửa đất, chiều dài các cạnh của thửa đất không có gì thay đổi so với hồ sơ kỹ thuật đất và bản vẽ được mô tả trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đại diện UBND xã B, tỉnh Nghệ An, cán bộ địa chính xã B cho biết đất sử dụng đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp với các hộ tiếp giáp liền kề. Thửa đất có diện tích 731,4 m² (đất ở). Thửa đất có các mặt tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp thửa đất số 137 có chiều dài 51.92m(bao gồm: đoạn dài 46,44; đoạn dài 1m; đoạn dài 4,48m).
- Phía Tây giáp đường xã, có chiều dài 19,53m(bao gồm đoạn dài 11,32m; đoạn dài 8,21m).
- Phía Nam giáp thửa đất số 139, có chiều dài 48.45m.(bao gồm: đoạn dài 4,14; đoạn dài 1m; đoạn dài 43,31m)
- Phía Đông giáp Khe Bà Tiếu, có chiều dài 14,09m(bao gồm đoạn dài 4,53m; đoạn dài 9,56m).
*Tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên bao gồm: 01(Một) nhà Vê 03 gian hướng Tây có chiều dài 11,6m có chiều rộng 6m, có tổng diện tích 69,6m2(trong đó 01 phần của nhà V là 01 phần gian lồi có diện tích 18m2 thuộc thửa đất 139, tờ bản đồ số 32); 01(một) nhà cấp IV hướng Nam có chiều dài 9m, chiều rộng 5,6m, diện tích 50,4m2; 01(một) mái tôn có chiều dài 11,6m, chiều rộng 5,6m, có diện tích 64,96m2(trong đó 01 phần mái tôn phía trước gian lồi của nhà hướng Tây thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 32 có chiều dài 5,67m, chiều rộng 3m, có diện tích 17m2). 01(một) sân lát gạch men chồng trơn trượt có diện tích bằng diện tích mái tôn là 64,96m2(trong đó có 01 phần sân thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 32, có diện tích 17m2); 01(một) nhà tắm + công trình phụ, nhà vệ sinh tự huỷ(phía trên có lợp mái tôn) có chiều dài 4m, chiều rộng 2m, có diện tích là 8m2. Tường bao hướng Tây của thửa đất xây bằng táp-lô nằm có tổng chiều dài 19,53, có chiều cao 1,2m, có diện tích là 23,44m2.
- Tài sản 2: Sau khi tiến hành đo đạc kiểm tra, xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số: 112, tờ bản đồ số 39; Địa chỉ thửa đất: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An(Nay là xóm T, xã B, tỉnh Nghệ An), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 141038, số vào sổ cấp GCN 04152 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cấp ngày 13/06/2024, cập nhật đính chính thay đổi ngày 17/07/2024 cấp cho ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị Thanh T2 rằng: Diện tích của thửa đất, chiều dài các cạnh của thửa đất không có gì thay đổi so với hồ sơ kỹ thuật đất và bản vẽ được mô tả trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đại diện UBND xã B, tỉnh Nghệ An, cán bộ địa chính xã B cho biết đất sử dụng đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp với các hộ tiếp giáp liền kề. Thửa đất có diện tích 482,3 m² (đất ở). Thửa đất có các mặt tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp thửa đất số 108 có chiều dài 25.92m, giáp thửa 110 có dài 21.91m.
- Phía Tây giáp đường xã, có chiều dài 10m(bao gồm đoạn dài 7m; đoạn dài 3m).
- Phía Nam giáp thửa đất số 35(đất lúa), có chiều dài 47.9 m.(bao gồm đoạn dài 0,69m; đoạn dài 46,9m)
- Phía Đông giáp đường, có chiều dài 10 m.
*Tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên: Không có tài sản gì.
Tại phiên tòa, bị đơn là bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Tại Công văn số 569/QLXNC-Đ1 ngày 27/02/2025 của Phòng Q - Công an tỉnh N1 có nội dung: “Bà Phạm Thị T1, sinh ngày 10/05/1988 đã xuất cảnh ngày 01/08/2024 qua cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh; Ông Phạm Xuân P, sinh ngày 20/09/1984 đã xuất cảnh ngày 01/08/2024 qua cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các Thông báo thụ lý vụ lý, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải, Thông báo về kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa,... cho bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P nhưng bà T1, ông P vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án:
Về phần thủ tục tố tụng: Về thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập đầy đủ chứng cứ. Tại phiên toà hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tống đạt các văn bản cho các đương sự tham tố tụng thực hiện đúng quy định bảo đảm quyền lợi nghĩa vụ của họ. Thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP P1 đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; Bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng đến nay bà T1, ông P vẫn vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà T1, ông P là có căn cứ và đúng theo quy định của Pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 280, 299, 303, 317, 318, 319, 321, 323, 357, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 26, 39, 147, 227, 228 và 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điều 35 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025;
Căn cứ Điều 100, 103, 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 7, khoản 2, 3, 4 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ - CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P1.
Buộc bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P1 toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 30/09/2025 tổng số tiền là: 2,079,432,764 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1,882,737,000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 10,982,162 đồng; Nợ lãi quá hạn: 185,713,602 đồng.
Bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P còn phải trả cho Ngân hàng TMCP P1 lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 đối với số tiền chưa trả cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng TMCP P1.
Trường hợp bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký kết thì đề nghị Tòa án tuyên bố Ngân hàng O có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi các khoản nợ.
Về án phí: bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa Ngân hàng O với bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bà bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P có nơi thường trú tại: xóm T, xã B, tỉnh Nghệ An. Mục đích vay của bị đơn là để bổ sung kinh doanh vật liệu xây dựng, nhưng bị đơn không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nên xác định đay là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6-Nghệ An theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35 và Điều 39 BLTTDS. Điều 35 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự 2025.
- [1.2] Về Sự vắng mặt của đương sự: Đây là lần thứ hai Tòa án mở phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhưng bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P vẫn vắng mặt. Xét thấy, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P.
- [2] Về nội dung:
- [2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ đối với các Hợp đồng tín dụng:
- - Đối với Hợp đồng tín dụng số: ST23024935/2023/PVT/HĐTD ký ngày 28/08/2023 và Khế ước nhận nợ số: ST24026486/2024/PVT/KUNN ngày 21/06/2024 theo đó Ngân hàng O cho bà T1, ông P vay số tiền: 1.300.000.000₫(Một tỷ ba trăm triệu đồng); Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung kinh doanh vật liệu xây dựng; Thời hạn cho vay: 5 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân. Lãi suất cho vay trong hạn: 7,9%/năm suốt thời gian vay; Lãi quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
- Như vậy, việc ký kết hợp đồng vay tín dụng số ST23024935/2023/PVT/HĐTD ngày 28/08/2023 giữa Ngân hàng TMCP P1 và bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P là hoàn toàn tự nguyện của các bên và tuân thủ các quy định của pháp luật cả về hình thức và nội dung của hợp đồng nên Hợp đồng tín dụng số ST23024935/2023/PVT/HĐTD ngày 28/08/2023 có hiệu lực pháp luật. Sau khi ký hợp đồng tín dụng bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã nhận đủ số tiền giải ngân 1.300.000.000 đồng tại Khế ước nợ - Khách hàng cá nhân số ST24026486/2024/PVT/KUNN ngày 21/06/2024.
- Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết. Do đó đến ngày 11/12/2024 khoản nợ của Hợp đồng tín dụng ST23024935/2023/PVT/HĐTD ký ngày 28/08/2023 và Khế ước nhận nợ số: ST24026486/2024/PVT/KUNN ngày 27/06/2024 đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 06/01/2025 bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã trả được cho Ngân hàng TMCP P1 số tiền nợ gốc: 17.263.000 đồng; Nợ lãi: 38.560.578 đồng; Nợ lãi phạt: 35 đồng, tổng là: 58.823.613 đồng. Tính đến ngày xét xử(ngày 30/09/2025) bà T1, ông P còn nợ Ngân hàng O số tiền: Nợ gốc: 1.282.737.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 4.489.012 đồng; Nợ lãi quá hạn: 130.848.259 đồng. Tổng nợ là: 1.418.074.271 đồng.
- - Đối với Hợp đồng tín dụng số: ST24031417/2024/PVT/HĐTD ký ngày 23/07/2024 và Khế ước nhận nợ số: ST24031417/2024/PVT/KUNN ngày 25/07/2024 theo đó Ngân hàng O cho bà T1, ông P vay số tiền: 600.000.000₫(Sau trăm triệu đồng); Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung kinh doanh vật liệu xây dựng; Thời hạn cho vay: 5 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân. Lãi suất cho vay trong hạn: 7,9%/năm suốt thời gian vay; Lãi quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
- Như vậy, việc ký kết hợp đồng vay tín dụng số ST24031417/2024/PVT/HĐTD ký ngày 23/07/2024 giữa Ngân hàng TMCP P1 và bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P là hoàn toàn tự nguyện của các bên và tuân thủ các quy định của pháp luật cả về hình thức và nội dung của hợp đồng nên Hợp đồng tín dụng số ST24031417/2024/PVT/HĐTD ký ngày 23/07/2024 có hiệu lực pháp luật. Sau khi ký hợp đồng tín dụng bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã nhận đủ số tiền giải ngân 600.000.000 đồng tại Khế ước nợ - Khách hàng cá nhân số ST24031417/2024/PVT/KUNN ngày 25/07/2024.
- Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết. Tính đến ngày 05/11/2024 bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đã trả được cho Ngân hàng TMCP P1 số tiền nợ gốc: 0 đồng; Nợ lãi: 13.375.889 đồng; Nợ lãi phạt: 24 đồng, tổng là: 13.375.913 đồng. Tính đến ngày xét xử(ngày 30/09/2025) bà T1, ông P còn nợ Ngân hàng O số tiền: Nợ gốc: 600.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 6.493.150 đồng; Nợ lãi quá hạn: 54.865.343 đồng. Tổng nợ là: 661.358.493 đồng.
- Tạm tính đến ngày 30/09/2025 bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P còn nợ Ngân hàng O tổng số tiền là: 2,079,432,764 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1,882,737,000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 10,982,162 đồng đồng; Nợ lãi quá hạn: 185,713,602 đồng.
- Qua các chứng cứ tài liệu phía Ngân hàng TMCP P1 cung cấp thấy bà T1, ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và gốc theo kỳ khi đến hạn đối với Ngân hàng TMCP P1 kể từ ngày 11/12/2024 là vi phạm khoản 1, 2 Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số: ST23024935/2023/PVT/HĐTD; Hợp đồng tín dụng số: ST24031417/2024/PVT/HĐTD ký ngày 23/07/2024 và Điều 466 BLDS. Do đó, Ngân hàng TMCP P1 khởi kiện đến TAND Khu vực 6 để giải quyết vụ án và yêu cầu bà T1, ông P phải có trách nhiệm thanh toán các khoản tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và tiền nợ gốc cho Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Xét thấy: Các Hợp đồng tín dụng số: ST23024935/2023/PVT/HĐTD; Hợp đồng tín dụng số: ST24031417/2024/PVT/HĐTD ký ngày 23/07/2024 giữa bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P và Ngân hàng O được lập thành văn bản, về hình thức của hợp đồng tuân thủ theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010. Các bên tham gia ký kết có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, việc ký kết hoàn toàn tự nguyện, mục đích vay vốn không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Thỏa thuận về lãi suất, phương thức trả nợ phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP. Do đó, các Hợp đồng tín dụng hợp pháp, phát sinh quyền nghĩa vụ đối với các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T1, ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 11/12/2024, tạm tính đến ngày 30/09/2025 bà T1, ông P còn nợ tổng số tiền là: 2,079,432,764 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1,882,737,000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 10,982,162 đồng; Nợ lãi quá hạn: 185,713,602 đồng. Việc vi phạm này là căn cứ phát sinh trách nhiệm trả nợ của bà T1, ông P theo Điều 466 BLDS.
- [2.2] Về Hợp đồng thế chấp tài sản: Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, bà T1, ông P đã thế chấp:
- + Tài sản 1: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất tại thửa số 138, tờ bản đồ số 32, tại địa chỉ xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 027760, số vào sổ cấp GCN 03602 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cấp ngày 30/06/2023 cấp cho ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T1. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng O theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST23024935/2023/PVT/HĐTC ký ngày 28/08/2023, số công chứng 1197, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C (số B, QL46, K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An) công chứng ngày 28/8/2023.
- + Tài sản 2: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất tại thửa số 112, tờ bản đồ số 39, tại địa chỉ xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 141038, số vào sổ cấp GCN 04152 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cấp ngày 13/06/2024, cập nhật đính chính thay đổi ngày 17/07/2024 cấp cho ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T1. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng O theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST24031417/2024/PVT/HĐTC ký ngày 23/07/2024, số công chứng 1373, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C (số B, QL46, K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An) công chứng ngày 23/7/2024.
Các Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản đều dựa trên cơ sở tự nguyện, các bên tham gia ký kết có đủ năng lực hành vi dân sự, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Các Hợp đồng thế chấp phù hợp với Điều 317, 319 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, các hợp đồng này là hợp pháp, phát sinh hiệu lực ràng buộc, là cơ sở để xử lý tài sản bảo đảm khi nghĩa vụ vay không được thực hiện.
- [3] Về tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện: Bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P vi phạm nghĩa vụ trả nợ với số tiền nợ gốc và nợ lãi tổng cộng là: 2,079,432,764 đồng; vì vậy Ngân hàng O khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T1, ông P trả nợ là có căn cứ. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà T1, ông P trả nợ là có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.
- [4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
- [5]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp nên miễn xét.
- [6]. Về án phí: Ngân hàng O không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành(Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 – Nghệ An).
- [2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ đối với các Hợp đồng tín dụng:
Bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147, 227, khoản 3 Điều 228, 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điều 35 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025;
- Căn cứ các Điều 280, 299, 303, 317, 318, 319, 321, 323, 357, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 100, 103, 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 7, khoản 2, 3, 4 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ - CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P1. Buộc bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P1 số tiền tạm tính đến ngày 30/09/2025(Ngày xét xử sơ thẩm) với tổng số tiền là: 2,079,432,764 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1,882,737,000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 10,982,162 đồng; Nợ lãi quá hạn: 185,713,602 đồng.
2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là:
- + Tài sản 1: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất tại thửa số 138, tờ bản đồ số 32, tại địa chỉ xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 027760, số vào sổ cấp GCN 03602 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cấp ngày 30/06/2023 cấp cho ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T1..
- + Tài sản 2: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất tại thửa số 112, tờ bản đồ số 39, tại địa chỉ xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 141038, số vào sổ cấp GCN 04152 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y cấp ngày 13/06/2024, cập nhật đính chính thay đổi ngày 17/07/2024 cấp cho ông Phạm Xuân P, bà Phạm Thị T1.
Những người sinh sống, quản lý, sử dụng các tài sản, công trình trên thửa đất thế chấp nêu trên có nghĩa vụ bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền để thi hành án theo Luật thi hành án dân sự.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P đối với Ngân hàng TMCP P1. Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán toàn bộ khoản nợ thì bà T1, ông P tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P1 cho đến khi trả nợ xong.
Sau khi bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P1 có nghĩa vụ trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp cho bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong các Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí: Bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Phạm Xuân P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 73.588.655₫(Bảy mươi ba triệu năm trăm tám mươi tám nghìn sáu trăm năm mươi lăm đồng).
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP P1 tiền tạm ứng án phí số tiền 34.743.000đ(Ba mươi tư triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 – Nghệ An) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006425 ngày 21/01/2025.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Về vấn đề thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 ( sửa đổi bổ sung 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008( sửa đổi bổ sung năm 2014).Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Công Hưng |
Bản án số 31/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 31/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP P1 với Phạm Thị T1 và Phạm Xuân P
