TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/DS-ST
Ngày: 06/3/2025.
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Kim Hoàng
Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 222/2024/DSST, ngày 03/10/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 479/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH M
Địa chỉ trụ sở: Tầng B, H C, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà H Kiêm Ayun
(Văn bản ủy quyền ngày 26/5/2023)
Bị đơn: Ông Đỗ Tấn T, sinh năm 1974
Địa chỉ: 874/22/11 Đ, phường A, Quận D, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ngày 11/9/2015, ông Đỗ Tấn T và Công ty TNHH Một thành viên T1 (nay đổi tên thành Công ty T2), sau đây gọi tắt là “SVFC”, có ký kết Hợp đồng tín dụng cá nhân số 10721209 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”).
Thông tin chi tiết của khoản vay như sau: Số tiền cho vay: 62.000.000 đồng; Mục đích vay: Vay tiêu dùng; Ngày rút vốn: 11/9/2015; Thời hạn vay: 48 tháng; Lãi suất: 34.5%/năm; Lãi phạt: Bằng 150% của lãi suất; Nợ gốc và nợ lãi được trả thành: 48 kỳ; Phương thức vay: tín chấp, không có tài sản bảo đảm.
Ngày 09/9/2022, SVFC ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 395-0922/COLLECTION-SVFC với Công ty TNHH M. Theo thỏa thuận, SVFC đã chuyển nhượng cho Công ty TNHH M nhiều hợp đồng tín dụng cùng khoản nợ tương ứng, trong đó bao gồm Hợp đồng tín dụng số 10721209 của bị đơn. Sau khi hợp đồng mua bán nợ được ký kết, Công ty TNHH M có toàn quyền thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật. Tính đến thời điểm chuyển nhượng, dư nợ còn lại của bị đơn như sau:
- Nợ gốc quá hạn: 51.579.600 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 29.936.100 đồng;
- Lãi phạt chậm thanh toán: 160.983.620 đồng.
Theo đơn khởi kiện ngày 09/02/2023, Công ty TNHH M yêu cầu Tòa tuyên buộc ông Đỗ Tấn T phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền là 243.899.320 đồng, trong đó:
- Nợ gốc quá hạn: 51.579.600 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 29.936.100 đồng;
- Lãi phạt chậm thanh toán: 160.983.620 đồng.
Nay, Công ty TNHH M sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, và bổ sung công thức tính lãi như sau: yêu cầu ông Đỗ Tấn T phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 04/12/2024 là 242.133.985 đồng, trong đó:
- Nợ gốc quá hạn: 51.579.600 đồng;
- Nợ lãi trong hạn (Tính từ ngày 01/12/2016 – 01/9/2019): 50.410.059 đồng;
- Nợ lãi trong hạn = Nợ gốc x Lãi suất (tháng) x số kỳ còn lại của Hợp đồng
- = 51.579.600 đồng x 2.9% x 34 kỳ
- = 50.410.059 đồng.
- Nợ lãi quá hạn (Tính từ ngày 01/10/2019 – 01/12/2024): 140.135.059 đồng.
- Nợ lãi quá hạn = Nợ gốc x 150% x Lãi suất (tháng) x số kỳ quá hạn của Hợp đồng
- = 51.579.600 đồng x 150% x 2.9% x 63 kỳ
- = 140.135.059 đồng.
Lãi quá hạn sẽ tiếp tục được tính với lãi suất 150% x (34,5%/12) = 4,31%/tháng theo như thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi ông T thanh toán xong khoản nợ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên và cả thời gian sau khi khoản nợ của Bị đơn đã được chuyển nhượng sang Công ty TNHH M, mặc dù Công ty TNHH M đã thông báo, đôn đốc, yêu cầu bị đơn trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo cam kết đã ký tại Hợp đồng tín dụng, nhưng đến thời điểm hiện nay bị đơn thể hiện việc thiếu hợp tác trong quá trình làm việc, chậm trả nợ và trì hoãn việc thực hiện các nghĩa vụ.
Công ty TNHH M yêu cầu ông Đỗ Tấn T phải thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật cho Công ty TNHH M với tổng số tiền tính đến ngày 04/12/2024 là: 242.133.985 đồng.
Bị đơn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, để thực hiện việc tham gia tố tụng tại Tòa án, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả toàn bộ khoản nợ và lãi còn thiếu là có cơ sở, cần được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết, như vậy có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”; Bị đơn cư trú tại Quận D, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Xét đề nghị của nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông T có trách nhiệm trả khoản nợ, không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng là tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận.
- Về nội dung: Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 11/9/2015, ông Đỗ Tấn T và Công ty TNHH Một thành viên T1 (nay đổi tên thành Công ty T2), sau đây gọi tắt là “SVFC”, có ký kết Hợp đồng tín dụng cá nhân số 10721209 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”).
Thông tin của khoản vay như sau: Số tiền cho vay: 62.000.000 đồng; Mục đích vay: Vay tiêu dùng; Ngày rút vốn: 11/9/2015; Thời hạn vay: 48 tháng; Lãi suất: 34.5%/năm; Lãi phạt: Bằng 150% của lãi suất; Nợ gốc và nợ lãi được trả thành: 48 kỳ; Phương thức vay: tín chấp, không có tài sản bảo đảm.
Ngày 09/9/2022, SVFC ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 395-0922/COLLECTION-SVFC với Công ty TNHH M. Theo thỏa thuận, SVFC đã chuyển nhượng cho Công ty TNHH M nhiều hợp đồng tín dụng cùng khoản nợ tương ứng, trong đó bao gồm Hợp đồng tín dụng số 10721209 của bị đơn. Sau khi hợp đồng mua bán nợ được ký kết, Công ty TNHH M có toàn quyền thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật. Tính đến thời điểm chuyển nhượng, dư nợ còn lại của bị đơn như sau:
- Nợ gốc quá hạn: 51.579.600 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 29.936.100 đồng;
- Lãi phạt chậm thanh toán: 160.983.620 đồng.
Theo đơn khởi kiện ngày 09/02/2023, Công ty TNHH M yêu cầu Tòa tuyên buộc ông Đỗ Tấn T phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền là 243.899.320 đồng, trong đó:
- Nợ gốc quá hạn: 51.579.600 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 29.936.100 đồng;
- Lãi phạt chậm thanh toán: 160.983.620 đồng.
Nay, Công ty TNHH M sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, và bổ sung công thức tính lãi như sau: yêu cầu ông Đỗ Tấn T phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 04/12/2024 là 242.133.985 đồng, trong đó:
- Nợ gốc quá hạn: 51.579.600 đồng;
- Nợ lãi trong hạn (Tính từ ngày 01/12/2016 – 01/9/2019): 50.410.059 đồng;
- Nợ lãi trong hạn = Nợ gốc x Lãi suất (tháng) x số kỳ còn lại của Hợp đồng
- = 51.579.600 đồng x 2.9% x 34 kỳ
- = 50.410.059 đồng.
- Nợ lãi quá hạn (Tính từ ngày 01/10/2019 – 01/12/2024): 140.135.059 đồng.
- Nợ lãi quá hạn = Nợ gốc x 150% x Lãi suất (tháng) x số kỳ quá hạn của Hợp đồng
- = 51.579.600 đồng x 150% x 2.9% x 63 kỳ
- = 140.135.059 đồng.
Lãi quá hạn sẽ tiếp tục được tính với lãi suất 150% x (34,5%/12) = 4,31%/tháng theo như thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi ông T thanh toán xong khoản nợ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên và cả thời gian sau khi khoản nợ của Bị đơn đã được chuyển nhượng sang Công ty TNHH M, đến thời điểm hiện nay, bị đơn không trả nợ và trì hoãn việc thực hiện các nghĩa vụ nên bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay và lãi hàng tháng mà các bên đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật cho nguyên đơn tổng số tiền số tiền nợ gốc và lãi tới hạn là có cơ sở theo quy định tại các Điều 90; 91; 95 và Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng, căn cứ vào các Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: buộc ông Đỗ Tấn T có trách nhiệm trả cho một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật số tiền tiền tạm tính đến ngày 04/12/2024 tổng là 242.133.985 đồng của hợp đồng tín dụng số 10721209.
Bị đơn phải trả lãi chậm thanh toán phát sinh tính từ ngày 07/3/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 10721209 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn là: đồng 242.133.985 đồng x 5% = 12.106.699 đồng; Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 220, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 90; 91; 95 và Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Đỗ Tấn T có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH M một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật số tiền tạm tính đến ngày 04/12/2024 tổng là 242.133.985 (Hai trăm bốn mươi hai triệu một trăm ba mươi ba nghìn chín trăm tám mươi lăm) đồng của hợp đồng tín dụng số 10721209 ngày 11/9/2015.
Bị đơn phải trả lãi chậm thanh toán phát sinh tính từ ngày 07/3/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 10721209 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.
Thi hành khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Đỗ Tấn T phải nộp 12.106.699 (Mười hai triệu một trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm chín mươi chín) đồng.
- Công ty TNHH M không phải nộp án phí. Trả lại số tiền tạm ứng án phí 6.098.000 (Sáu triệu không trăm chin mươi tám nghìn) đồng cho Công ty TNHH M đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/001796 ngày 16/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
- Về quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Huỳnh Tấn Phát |
Bản án số 31/2025/DS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 31/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TC HĐ TÍN DỤNG - TẤN TỚI
