Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Bản án số: 31/2025/DS-PT
Ngày: 13-3-2025
V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Thẩm phán: 1. Bà Đoàn Thị Kiều Hương
2. Bà Nguyễn Thị Thu Từ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang; Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2024/TLPT - DS ngày 05 tháng 11 năm 2024, về việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐPT-DS ngày 13/02/2025 và quyết định hoãn phiên toà số 53/2025/QĐPT-DS ngày 26/02/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Đình T, sinh năm 1951; Nơi cư trú: thôn T (thôn C cũ), xã Q (hiện nay là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1950; Nơi cư trú: xóm A (thôn A cũ), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: ông Trần Công D, sinh năm 1971; Nơi cư trú: thôn T (thôn C cũ), xã Q (hiện nay là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Xuân T1; sinh năm: 1939; Địa chỉ: thôn T, xã Q (nay là xã V), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Mạnh H, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Ngõ A, số nhà A, đường N, quận L, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Mạnh H: ông Trần Đình T, sinh năm 1951; Nơi cư trú: thôn T (thôn C cũ), xã Q (hiện nay là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

  3. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1948; Nơi cư trú: thôn T (thôn C cũ), xã Q (hiện nay là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  4. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1955; Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Văng mặt (Có đơn xin xét xử văng mặt).
  5. Ông Trần Đình T2, sinh năm 1959; Địa chỉ: A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
  6. Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Đình T2: ông Trần Đình T, sinh năm 1951; Nơi cư trú: thôn T (thôn C cũ), xã Q (hiện nay là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

  7. Bà Trần Thị P, sinh năm 1961; Nơi cư trú: thôn A (hiện nay là xóm G), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  8. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1972; Nơi cư trú: thôn T (thôn C cũ), xã Q (hiện nay là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

* Người kháng cáo: - Ông Trần Đình T, sinh năm 1951; Nơi cư trú: thôn T (thôn C cũ), xã Q (hiện nay là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Là: Nguyên đơn trong vụ án.

- Ông Trần Công D, sinh năm 1971; Nơi cư trú: thôn T (thôn C cũ), xã Q (hiện nay là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Là: Bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện để ngày 17 tháng 12 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Đình T và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C thống nhất trình bày: Bố mẹ ông Trần Đình T là ông Trần Đình G (sinh năm 1923, chết năm 2004), bà Trần Thị T3 (sinh năm 1917, chết năm 2013), trong quá trình sinh sống tạo lập được tài sản là thửa đất số 632 tờ bản đồ số 07 có diện tích 696m² (bản đồ địa chính) và ngôi nhà gỗ 03 gian lợp ngói tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ông G bà T3 có 06 người con gồm: Trần Thanh N (Liệt sĩ có 02 người con Trần Mạnh H và Trần Công D), Trần Thị Đ, Trần Thị H1, Trần Đình T, Trần Đình T2 và Trần Thị P. Ông G bà T3 không có con riêng, con nuôi. Ông G bà T3 chết không để lại di chúc. Ông T khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật đối với thửa đất số 632, tờ bản đồ số 07, diện tích 696m² tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và 03 gian nhà gỗ để lại làm nhà thờ cúng giao cho ông Trần Đình T quản lý. Ông T và các ông, bà Trần Mạnh H, Trần Thị Đ, Trần Thị H1, Trần Đình T2, Trần Thị P, mỗi người nhận diện tích 105,33m².

* Bị đơn ông Trần Công D trình bày: bố mẹ ông là ông Trần Thanh N (mất năm 1972), bà Trần Thị T4 (sinh năm 1947, mất năm 2001). Lúc còn nhỏ ông được biết thửa đất số 632 tờ bản đồ số 07 có diện tích 696m² (bản đồ địa chính) tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An mang tên mẹ ông (bà Trần Thị T4). Bà T4 là chủ sử dụng của mảnh đất mà vợ chồng ông đang sinh sống. Năm 1991 ông lấy vợ (Trần Thị H2), năm 1992 bà T4 sang tên cho ông được quyền sử dụng thửa đất. Trong thời gian dài mẹ và vợ chồng ông sinh sống trên thửa đất đã làm tròn trách nhiệm của người công dân đối với chủ trương của Đảng và Nhà nước quy định đóng các khoản phí, thuế đầy đủ. Cũng trong thời gian trên vợ chồng ông xây dựng, kiến thiết nhà cửa gồm 01 nhà 3 gian làm bằng gỗ để thờ cúng bố (ông Trần Thanh N), 01 nhà 4 gian làm bằng gỗ để gia đình sinh sống, 01 nhà bếp, 01 thùng đựng nước sinh hoạt, 01 nhà vệ sinh và công trình phụ, xây tường bao vây làm mốc của mành vườn. Ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết để gia đình yên tâm làm ăn và có nơi thờ cúng liệt sĩ Trần Thanh N. Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông T, ông không đồng ý vì thửa đất số 632 tờ bản đồ số 07 có diện tích 696m² (bản đồ địa chính) và ngôi nhà gỗ 03 gian lợp ngói tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là của mẹ ông và gia đình ông đã quản lý và sử dụng từ xưa cho đến nay.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Đ, Trần Thị P, Trần Thị H1, ông Trần Đình T2 trình bày: thống nhất với ông T về tên tuổi, các con của ông G, bà T3; nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất số 632 tờ bản đồ số 07 có diện tích 696m² (bản đồ địa chính) và ngôi nhà gỗ 03 gian lợp ngói tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Các ông, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, trường hợp chia thừa kế thửa đất số 632 tờ bản đồ số 07 có diện tích 696m² và ngôi nhà gỗ 03 gian lợp ngói. Phần các ông, bà được hưởng, các ông, bà xin nhận bằng hiện vật.

Ông Trần Mạnh H trình bày: ông là con ông Trần Thanh N và bà Lê Thị T5, cháu nội ông Trần Đình G và bà Trần Thị T3. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất số 632 tờ bản đồ số 07 có diện tích 696m² tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, ông thống nhất với phần trình bày của ông T. Trường hợp, Tòa án chia thừa kế, phần ông được hưởng, ông xin nhận bằng hiện vật.

Bà Trần Thị H2 trình bày: thống nhất với phần trình bày của chồng (ông Trần Công D). Trong quá trình sinh sống tại thửa đất số 632 tờ bản đồ số 07 có diện tích 696m² (thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) vợ chồng bà tạo lập được tài sản 01 nhà có 04 gian hướng Đông, 01 nhà 03 gian hướng Nam, nhà bếp, thùng đựng nước, nhà vệ sinh, khu chăn nuôi, sân, mái tôn, mái che nhà vệ sinh và tường bao. Trường hợp Tòa án chia thừa kế, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản thể hiện: Thửa đất số 394 tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) diện tích 592m², theo bản đồ địa chính là thửa số 632 tờ số 7 diện tích 696m², theo bản đồ số là thừa số 49 tờ bản đồ số 13 diện tích 686,7m², địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tứ cận cụ thể như sau: phía Đông giáp đường nội thôn dài 17,73m + 11,39m + 0,99m, phía Tây giáp đất ông Trần Đình T dài 12,30m + 0,82m + 4,61m + 8,71m, phía Nam giáp đường nội thôn dài 0,77m + 24,05m, phía Bắc giáp đất ông Trần Quang S dài 24,28m.

Giá trị thửa đất tại thời điểm định giá: 1.760.015.000đ (một tỷ bày trăm sáu mươi triệu không trăm mười lăm nghìn đồng), trong đó đất ở 200m² x 4.000.000₫ (bốn triệu đồng/1m²) = 800.000.000đ, đất vườn 486,7m² x 1.972.500đ/1m² (một triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm đồng)/1m² = 960.015.000₫.

Trên thửa đất có các tài sản: Nhà ở cấp 4 hướng Đông diện tích 76m² trị giá 112.500.000đ; nhà cấp 4 hướng Nam diện tích 47m² trị giá 70.500.000đ; nhà bếp cấp 4 trị giá 13.000.000đ; công trình vệ sinh trị giá 21.000.000đ; bể cạn trị giá 8.000.000đ; sân trị giá 6.800.000đ; mái tôn trị giá 18.000.000đ; nhà chăn nuôi trị giá 1.000.000đ; tường bao trị giá 11.000.000đ; 02 trụ cổng và cổng trị giá 500.000đ; giếng nước trị giá 2.000.000đ. Vườn trồng hoa màu và một số cây các đương sự thống nhất không định giá.

Tòa án đã tiến hành thông báo kết quả xem xét thẩm định và định giá tại chỗ cho các đương sự, không ai có khiếu nại hay ý kiến gì về tình trạng và giá trị tài sản đã được xem xét.

Chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Nguyên đơn ông Trần Đình T thỏa thuận chịu 4.868.000₫ (bốn triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, không yêu cầu các đương sự khác phải chi trả lại.

Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q về việc tăng giảm diện tích thửa đất số 394 tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) diện tích 592m², theo bản đồ địa chính là thừa số 632 tờ số 7 diện tích 696m², theo bản đồ số là thừa số 49 tờ bản đồ số 13 diện tích 686,7m², địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có việc tăng diện tích là do sai số đo đạc, phần diện tích tăng thêm phù hợp với quy hoạch. Thửa đất không có tranh chấp mốc giới với các hộ liền kề.

Tại Bàn án Dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào:

  • Khoản 5 Điều 26; các Điều 35; 39; 147; 157, 165; các Điều 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 và khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Các Điều 95, 99, 167 và điểm d khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đình T về việc chia di sản của cụ Trần Đình G và Trần Thị T3 đối với thửa đất số 394 tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) diện tích 592m², theo bản đồ địa chính là thừa số 632 tờ số 7 diện tích 696m², theo bản đồ số là thừa số 49 tờ bản đồ số 13 diện tích 686,7m², địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và tài sản trên đất 01 (một) gian nhà cấp bốn hướng Nam theo quy định của pháp luật. Phân chia cụ thể như sau:

1. Ông Trần Đình T được quyền sử dụng diện tích 208,6m² (trong đó đất ở 80m², đất vườn 128,6m²) thuộc thửa đất số 49 tờ bản đồ số 13 (bản đồ số), địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tứ cận, kích thước cụ thể: phía Đông giáp đường nội thôn dài 9,24m, phía Tây giáp thửa đất số 48 (đất ông Trần Đình T) dài 7,96m, phía Nam giáp đất ông Trần Công D dài 24,28m, phía Bắc giáp đất ông Trần Quang S dài 24,28m (có sơ đồ kèm theo). Và được quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm có 01 (một) gian nhà cấp bốn nền xi măng hướng Nam diện tích 47m², nhà bếp cấp 4, công trình vệ sinh, bể cạn, nhà chăn nuôi, giếng nước, bờ tường bao phía Đông giáp đường nội thôn dài 9,24m.

2. Ông Trần Công D được quyền sử dụng diện tích 478,1m² (trong đó đất ở 120m², đất vườn 358,1m²) thuộc thửa đất số 49 tờ bản đồ số 13 (bản đồ số), địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tứ cận, kích thước cụ thể: phía Đông giáp đường nội thôn dài 8,49m + 11,39m + 0,99m, phía Tây giáp thửa đất số 48 (đất ông Trần Đình T) dài 12,30m + 0,82m + 4,61m + 0,75m, phía Nam giáp đường nội thôn dài 24,05m, phía Bắc giáp đất giao cho ông Trần Đình T dài 24,28m (có sơ đồ kèm theo). Và được quyền sở hữu tài sản trên đất.

3. Ông Trần Đình T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị Đ số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng), bà Trần Thị P số tiền 121.159.000₫ (một trăm hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi chín nghìn đồng).

4. Ông Trần Công D có nghĩa vụ nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Mạnh H số tiền 130.751.000₫ (một trăm ba mươi triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng), bà Trần Thị H1 số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng), ông Trần Đình T2 số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng), bà Trần Thị P số tiền 140.344.000₫ (một trăm bốn mươi triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), bà Trần Thị H2 số tiền 130.751.000đ (một trăm ba mươi triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng).

5. Ông Trần Đình T2, bà Trần Thị H1, mỗi người được quyền sở hữu số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng) do ông D có nghĩa vụ thanh toán.

6. Ông Trần Mạnh H, bà Trần Thị H2, mỗi người được quyền sở hữu số tiền 130.751.000đ (một trăm ba mươi triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng) do ông D có nghĩa vụ thanh toán.

7. Bà Trần Thị Đ được quyền sở hữu số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng) do ông T có nghĩa vụ thanh toán.

8. Bà Trần Thị P được quyền sở hữu số tiền 140.344.000₫ (một trăm bốn mươi triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) do ông D có nghĩa vụ thanh toán và số tiền 121.159.000₫ (một trăm hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi chín nghìn đồng) do ông T có nghĩa vụ thanh toán.

9. Ông Trần Đình T có nghĩa vụ trả lại giá trị tài sản trên đất cho ông D, bà H2 số tiền 46.212.000đ (bốn mươi sáu triệu hai trăm mười hai nghìn đồng).

10. Ông Trần Công D, bà Trần Thị H2 được quyền sở hữu số tiền 46.212.000đ (bốn mươi sáu triệu hai trăm mười hai nghìn đồng) do ông T có nghĩa vụ giao trả.

11. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được chia quyền sử dụng đất có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, chuyển đổi đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/9/2024, bị đơn ông Trần Công D có đơn kháng cáo với nội dung: không đồng ý với kết quả giải quyết vụ án của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì: không chứng minh được nguồn gốc đất và không đưa ra bằng chứng cụ thể; về căn nhà ở hướng Nam không có bằng chứng là ông bà Trần Đình G xây dựng lên để làm tài sản để phân chia.

Ngày 27/9/2024, bị đơn ông Trần Công D có đơn kháng cáo bổ sung với nội dung:

  • Toà án cấp sơ thẩm không điều tra xác minh làm rõ nguồn gốc đất mà cho rằng đất đó là của ông G, bà T3.
  • Ngôi nhà thờ là của vợ chồng ông xây năm 2004 nhưng ông G mất cuối năm 2004 thì lúc đó đã già yếu, không còn minh mẫn, cũng không có tài chính, phải sống phụ thuộc vào con cháu mà Toà án lại cho rằng ngôi nhà đó là của ông G xây là không đúng quy định pháp luật, không đúng thực tế.

Trong khi vụ án giải quyết ông cũng đã trình bày việc đất trong vườn nhà ông được chuyển đổi từ ngoài đồng về, theo hộ khẩu có trong gia đình, cho nên đất khoán của gia đình ông ít hơn vì đất vườn cạnh đất ở đã nhiều hơn. Tuy nhiên, Toà án không điều tra, xác minh làm rõ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông và gia đình ông, các con ông.

  • Ông là con liệt sỹ nhưng Toà án không miễn tiền án phí cho ông.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn ông Trần Đình T có đơn kháng cáo với lý do: bản án phân chia tài sản chưa công minh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết:

  • Tài sản và đất chia cho các thành viên trong gia đình phải bằng hiện vật chứ không phải bằng tiền, vì các ông bà muốn giữ lại tài sản của ông bà bố mẹ cho con cháu sau này.
  • Định giá tài sản không khách quan: những tài sản làm lúc bố mẹ ông đang sống đến nay đã hết hạn sử dụng. Còn tài sản sau khi bố mẹ ông chết thì không được tính vì lúc đó đã có sự tranh chấp.

Tài sản của bà T5 để lại là một nhà ba gian, là tiền của Trần Mạnh H gửi về để làm. Tài sản của bà T5 thì phải phân chia cho hai anh em.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Đình T giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Bị đơn ông Trần Công D không đồng ý với các nội dung kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên các nội dung kháng cáo và kháng cáo bổ sung của bị đơn, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Đình T, bị đơn ông Trần Công D đúng thời hạn và ông T thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí còn ông D đã nộp tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Đình T, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trần Công D, sửa bản án sơ thẩm về án phí.
  • Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Đình T không được chấp nhận nhưng ông T là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm; kháng cáo của bị đơn ông Trần Công D được chấp nhận một phần nên ông D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về chia di sản thừa kế thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu theo quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Đình T, bị đơn ông Trần Công D có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ, nguyên đơn ông Trần Đình T thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí còn bị đơn ông Trần Công D đã nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của các đương sự; Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Đình T:

[2.1.1] Về nội dung kháng cáo tài sản và đất chia cho các thành viên trong gia đình phải bằng hiện vật chứ không phải bằng tiền, Hội đồng xét xử thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đã xác định trên thửa đất hiện đang tranh chấp có 02 ngôi nhà (nhà cấp 4 hướng Đ1 và nhà cấp 4 hướng N1) và các tài sản xây dựng trên đất như nhà bếp, công trình vệ sinh, nhà chăn nuôi... Tại phiên toà phúc thẩm các đương sự cũng thừa nhận: Vợ chồng ông D là người đang sinh sống trên đất từ trước đến nay, không có chỗ ở nào khác, khi ông D xây dựng ngôi nhà cấp 4 hướng Đông thì cũng không có ai phản đối gì; còn các đương sự khác trong vụ án như bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị H1, ông Trần Đình T2, bà Trần Thị P, ông Trần Mạnh H cũng đã có chỗ ở ổn định ở nơi khác; sau khi xét xử sơ thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị H1, ông Trần Đình T2, bà Trần Thị P, ông Trần Mạnh H cũng không kháng cáo. Vì vậy, để đảm bảo giá trị sử dụng của các tài sản, cũng như để tạo điều kiện cho vợ chồng ông D có chỗ ở, cấp sơ thẩm đã phân chia phần quyền sử dụng đất có nhà ở cho ông D, buộc ông D trả lại giá trị di sản thừa kế bằng tiền cho các đồng thừa kế khác là có căn cứ, phù hợp với thực tế sử dụng đất nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.

[2.1.2]. Về nội dung kháng cáo việc định giá tài sản không khách quan, những tài sản làm lúc bố mẹ ông đang sống đến nay đã hết hạn sử dụng, còn tài sản làm sau khi bố mẹ ông chết thì không được tính vì lúc đó đã có sự tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù đã được Hội đồng xét xử xét hỏi nhưng ông Trần Đình T vẫn không yêu cầu tiến hành định giá lại, đồng thời cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh giá trị mà Hội đồng đã định giá và giá thị trường của các tài sản là có sự chênh lệch nhau; không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh quá trình định giá tài sản ở cấp sơ thẩm là không khách quan nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.

[2.1.3]. Về nội dung kháng cáo tài sản của bà T5 để lại là một nhà ba gian, là tiền của Trần Mạnh H gửi về để làm. Tài sản của bà T5 thì phải phân chia cho hai anh em, xét thấy: quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, tại Bản tự khai cũng như tại các biên bản hòa giải, ông Trần Mạnh H thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu độc lập về việc phân chia di sản thừa kế của bà Trần Thị T4; sau khi xét xử sơ thẩm, ông Trần Mạnh H cũng không kháng cáo, đến tại cấp phúc thẩm mới yêu cầu là vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm nên cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, cho thấy nguyên đơn kháng cáo nhưng không có cơ sở, không đưa ra các căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không chấp nhận các nội dung kháng cáo của nguyên đơn.

[2.2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Công D:

[2.2.1] Về nội dung kháng cáo không chứng minh được nguồn gốc đất và không đưa ra bằng chứng cụ thể, Tòa án cấp sơ thẩm không điều tra xác minh làm rõ nguồn gốc đất mà cho rằng đó là đất của ông G, bà T3: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông D cho rằng nguồn gốc thửa đất số 394 tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) diện tích 592m², theo bản đồ địa chính là thừa số 632 tờ số 7 diện tích 696m², theo bản đồ số là thừa số 49 tờ bản đồ số 13 diện tích 686,7m², địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là của bố mẹ ông D (ông Trần Thanh N và bà Trần Thị T4) được cắt đất ở theo tiên chuẩn 2 dâu nhưng ông D không xuất trình được bất kỳ một tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh về vấn đề này. Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện: theo trình bày của nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người con của cụ Trần Đình G và cụ Trần Thị T3 đều thống nhất trình bày: Cụ G và cụ T3 sinh sống tại thửa đất số 632, tờ bản đồ số 7, diện tích 696m² (theo bản đồ địa chính), nay là thừa số 49, tờ bản đồ số 13, diện tích 686,7m² (bản đồ địa chính số) tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An từ khi kết hôn cho đến khi hai cụ chết. Năm 1967, ông N cưới bà T4 và cùng sinh sống trên thửa đất này cùng cụ G, cụ T3 và các em chồng. Năm 1972, ông N hi sinh, bà T4 và các con vẫn sống chung cùng cụ G, cụ T3. Đến năm 1980 – 1981, cụ G, cụ T3 cho bà T4 và các con ở riêng tại nhà ở 4 gian nhưng cùng trên thửa đất. Còn cụ G, cụ T3 sống cùng các con đến năm 1987 các con lập gia đình ở riêng hết thì cụ G, cụ T3 ở với nhau, đến năm 2004 cụ G mất, cụ T3 sống một mình đến năm 2012 thì ra nhà ông T ở và đến năm 2014 thì chết. Đặc biệt, ông Trần Mạnh H là con trai cả của ông N, bà T4, là anh trai của ông Trần Công D cũng thừa nhận thửa đất có nguồn gốc của ông bà nội là cụ G, cụ T3 để lại, mẹ ông là bà T4 về làm dâu và cùng chung sống trên mảnh đất này. Tại Đơn khiếu nại đề ngày 09/8/2010 (BL 100), bản thân bị đơn ông Trần Công D cũng có trình bày: "Hiện nay gia đình tôi đang sinh sống trên đất mà ông bà tôi đã cho mẹ tôi là bà Trần Thị T6 là vợ liệt sỹ Trần Thanh N là con trai trường của ông Trần Đình G và bà Trần Thị T3. Theo tập tục của người Việt Nam, là ông bà giao đất cho con trai trưởng nên ông bà đã giao đất cho mẹ tôi là bà Trần Thị T6". Điều đó chứng tỏ bản thân ông D cũng đã thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 632, tờ bản đồ số 7 là của cụ G và cụ T3. Ngoài ra, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án như: Biên bản xét duyệt hồ sơ cấp GCNQSD đất ngày 15/11/2009 cho bà Trần Thị T3 (BL 92); Phiếu lấy ý kiến khu dân cư ngày 15/11/2009 (BL 90), trong đó thành phần cuộc họp có xóm trưởng, có đại diện UBND xã, bà Trần Thị T3 và 3 người cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất với bà T3 cũng như tại các công văn, Báo cáo của UBND xã Q, UBND huyện Q đều xác định nguồn gốc sử dụng thửa đất đang tranh chấp là được UBND xã cấp cho ông G, bà T3 từ trước năm 1970 và được sử dụng ổn định, liên tục cho đến nay. Do đó, khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 632, tờ bản đồ số 7, diện tích 696m² (theo bản đồ địa chính), nay là thừa số 49, tờ bản đồ số 13, diện tích 686,7m² (bản đồ địa chính số) tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là di sản thừa kế của cụ Trần Đình G và cụ Trần Thị T3 để lại để phân chia là có căn cứ nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.

[2.2.2] Về nội dung kháng cáo Toà án cấp sơ thẩm xác định ngôi nhà cấp 4 hướng N1 là di sản thừa kế của cụ G và cụ T3 là không đúng quy định pháp luật, không đúng thực tế, Hội đồng xét thấy: Tại đơn kháng cáo và tại phiên toà phúc thẩm, ông D cho rằng ngôi nhà cấp 4 hướng Nam là của vợ chồng ông xây dựng nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Mặt khác, cũng tại phiên toà phúc thẩm, ông D cũng thừa nhận quá trình sinh sống tại thửa đất số 632, tờ bản đồ số 7 thì hai cụ sinh sống tại ngôi nhà cấp 4 hướng Nam này mà không ai phản đối hay ngăn cản gì; còn bà T4 và các con sinh sống tại ngôi nhà cấp 4 hướng Đ. Lời khai của nguyên đơn cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là các con của cụ G, cụ T3; lời khai của ông Trần Mạnh H cũng khẳng định ngôi nhà cấp 4 hướng N1 là do cụ G và cụ T3 xây dựng và đến năm 2004, khi cụ G, cụ T3 còn sống đã cùng con cháu góp lại tu sửa ngôi nhà để làm nơi thờ cúng cho đến nay nên cấp sơ thẩm xác định ngôi nhà cấp 4 hướng N1 là di sản thừa kế của cụ G và cụ T3 là có căn cứ, tại cấp phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của ông D.

Đồng thời, đối với nội dung kháng cáo Toà án không điều tra, xác minh về việc đất trong vườn nhà ông D được chuyển đổi từ ngoài đồng về, cho nên đất khoán của gia đình ông ít hơn vì đất vườn cạnh đất ở đã nhiều hơn; Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn kháng cáo, ông D có trình bày về nội dung này nhưng không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh về chủ trương đồi đất từ đất nông nghiệp sang đất vườn của UBND các cấp, không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc đổi đất nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp được cấp. Trong khi đó, tại Biên bản xác minh UBND xã Q, huyện Q (BL 324) lại cung cấp: "Diện tích tăng thêm do sai số trong đo đạc. Phần diện tích tăng thêm phù hợp với quy hoạch". Mặt khác, khi phân chia di sản thừa kế, xét thấy ông D là người trực tiếp sinh sống trên đất từ trước đến nay, sau khi hai cụ chết, ông D là người quản lý di sản, có công sức trong việc tôn tạo, bảo quản tài sản nên cấp sơ thẩm đã trích công sức tôn tạo, bảo quản tài sản cho ông D bằng 1 suất thừa kế là đã đảm bảo quyền lợi cho ông D nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.

[2.2.3] Về nội dung kháng cáo ông D là con liệt sỹ nhưng Toà án không miễn tiền án phí cho ông, xét thấy quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông D không làm đơn xin miễn tiền án phí nên cấp sơ thẩm không miễn cho ông D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tại cấp phúc thẩm, ông D có nộp "Đơn xin miễn tiền án phí" đề ngày 27/9/2024 và xét thấy ông D là con của liệt sỹ Trần Thanh N, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 nên cấp phúc thẩm chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm (do lỗi khách quan), miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Công D.

[3]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của bị đơn ông Trần Công D được chấp nhận một phần và ông D là con liệt sỹ nên không phải chịu án phí phúc thẩm; kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Đình T không được chấp nhận nhưng ông T là người cao tuổi nên miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông T theo quy định của pháp luật.

[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Đình T; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trần Công D.

2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An về phần án phí dân sự sơ thẩm.

2.1. Căn cứ vào:

  • Khoản 5 Điều 26; các Điều 35; 39; 147; 157, 165; các Điều 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 và khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Các Điều 95, 99, 167 và điểm d khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đình T về việc chia di sản của cụ Trần Đình G và Trần Thị T3 đối với thửa đất số 394 tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) diện tích 592m², theo bản đồ địa chính là thửa số 632 tờ số 7 diện tích 696m², theo bản đồ số là thừa số 49 tờ bản đồ số 13 diện tích 686,7m², địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và tài sản trên đất 01 (một) gian nhà cấp bốn hướng Nam theo quy định của pháp luật. Phân chia cụ thể như sau:

2.2. Ông Trần Đình T được quyền sử dụng diện tích 208,6m² (trong đó đất ở 80m², đất vườn 128,6m²) thuộc thửa đất số 49 tờ bản đồ số 13 (bản đồ số), địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tứ cận, kích thước cụ thể: phía Đông giáp đường nội thôn dài 9,24m, phía Tây giáp thửa đất số 48 (đất ông Trần Đình T) dài 7,96m, phía Nam giáp đất ông Trần Công D dài 24,28m, phía Bắc giáp đất ông Trần Quang S dài 24,28m (có sơ đồ kèm theo). Và được quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm có 01 (một) gian nhà cấp bốn nền xi măng hướng Nam diện tích 47m², nhà bếp cấp 4, công trình vệ sinh, bể cạn, nhà chăn nuôi, giếng nước, bờ tường bao phía Đông giáp đường nội thôn dài 9,24m.

2.3. Ông Trần Công D được quyền sử dụng diện tích 478,1m² (trong đó đất ở 120m², đất vườn 358,1m²) thuộc thửa đất số 49 tờ bản đồ số 13 (bản đồ số), địa chỉ thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tử cận, kích thước cụ thể: phía Đông giáp đường nội thôn dài 8,49m + 11,39m + 0,99m, phía Tây giáp thửa đất số 48 (đất ông Trần Đình T) dài 12,30m + 0,82m + 4,61m + 0,75m, phía Nam giáp đường nội thôn dài 24,05m, phía Bắc giáp đất giao cho ông Trần Đình T dài 24,28m (có sơ đồ kèm theo). Và được quyền sở hữu tài sản trên đất.

2.4. Ông Trần Đình T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị Đ số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng), bà Trần Thị P số tiền 121.159.000₫ (một trăm hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi chín nghìn đồng).

2.5. Ông Trần Công D có nghĩa vụ nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Mạnh H số tiền 130.751.000₫ (một trăm ba mươi triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng), bà Trần Thị H1 số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng), ông Trần Đình T2 số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng), bà Trần Thị P số tiền 140.344.000₫ (một trăm bốn mươi triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), bà Trần Thị H2 số tiền 130.751.000đ (một trăm ba mươi triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng).

2.6. Ông Trần Đình T2, bà Trần Thị H1, mỗi người được quyền sở hữu số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng) do ông D có nghĩa vụ thanh toán.

2.7. Ông Trần Mạnh H, bà Trần Thị H2, mỗi người được quyền sở hữu số tiền 130.751.000đ (một trăm ba mươi triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng) do ông D có nghĩa vụ thanh toán.

2.8. Bà Trần Thị Đ được quyền sở hữu số tiền 261.502.000₫ (hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm linh hai nghìn đồng) do ông T có nghĩa vụ thanh toán.

2.9. Bà Trần Thị P được quyền sở hữu số tiền 140.344.000₫ (một trăm bốn mươi triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) do ông D có nghĩa vụ thanh toán và số tiền 121.159.000₫ (một trăm hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi chín nghìn đồng) do ông T có nghĩa vụ thanh toán.

2.10. Ông Trần Đình T có nghĩa vụ trả lại giá trị tài sản trên đất cho ông D, bà H2 số tiền 46.212.000đ (bốn mươi sáu triệu hai trăm mười hai nghìn đồng).

2.11. Ông Trần Công D, bà Trần Thị H2 được quyền sở hữu số tiền 46.212.000₫ (bốn mươi sáu triệu hai trăm mười hai nghìn đồng) do ông T có nghĩa vụ giao trả.

2.12. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được chia quyền sử dụng đất có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, chuyển đổi đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

2.13. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Đình T, ông Trần Đình T2, bà Trần Thị Đ, Trần Thị P, Trần Thị H1 và ông Trần Công D. Buộc ông Trần Mạnh H phải chịu số tiền 7.082.000đ (bảy triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 29; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: nguyên đơn ông Trần Đình T và bị đơn ông Trần Công D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho bị đơn ông Trần Công D 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005664 ngày 23/9/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Liru.

5. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Quỳnh Lưu;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 31/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản giữa ông T và ông D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger