Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 31/2025/DS-PT
Ngày: 10/02/2025
“V/v tranh chấp QSDĐ”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư, bà Võ Bích Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 438/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 516/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc T – sinh năm: 1962.

    Nơi cư trú: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1972.

    Nơi cư trú: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Theo Hợp đồng ủy quyền chứng thực số 24, quyển số 01/2024-SCT/HĐ,GD ngày 05/02/2024 tại Ủy ban nhân dân phường T).

  • * Bị đơn: Ông Trần Ngọc T2 – sinh năm: 1976;

    Nơi cư trú: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1995.

    Địa chỉ: E, đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 06/01/2025 - tại Văn phòng C).

Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Ngọc T2.

NỘI DUNG VỤ KIỆN

Nguyên đơn bà Trần Ngọc T trình bày: Bà là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 1495, tờ bản đồ số 04, diện tích 404m², loại đất cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 856134, số vào sổ cấp giấy “H”01573 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 14/5/2007 do bà đứng tên, đất tọa lạc tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc sử dụng được bà Lê Thị X là mẹ ruột tặng cho từ trước năm 1990, nhưng đến năm 2007 mới làm thủ tục sang tên cho bà T. Khi thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cơ quan chức năng có đo đạc cụ thể diện tích hình thể, kích thước thửa đất được tặng cho và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng thể hiện rõ chiều dài, chiều ngang các cạnh và bà T đã quản lý, sử dụng ổn định liên tục lâu dài thửa đất từ trước năm 1990 đến nay.

Tiếp giáp thửa đất 1495 là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 04 do ông Trần Ngọc T2 đứng tên sử dụng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CQ00002, được Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 10/12/2009, đến ngày 11/12/2019 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T xác nhận, đính kèm theo Giấy chứng nhận số phát hành BA 118029 là T bổ sung về sơ đồ thửa đất có diện tích 656.9m², loại đất cây lâu năm, hiện thửa đất 01, tờ bản đồ số 04 đã được tách ra làm 02 thửa là thửa 01 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06746, do Sở tài nguyên và môi trường thành phố C cấp ngày 21/5/2020 và thửa 1917 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06745, do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 19/5/2020, diện tích đất không thay đổi, nhưng chuyển mục đích sử dụng từ đất cây lâu năm lên đất ODT với diện tích 200m². Do nguyên đơn có nhu cầu đo đạc để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các hộ tứ cận đều thỏa thuận xác nhận ranh giới đất, riêng bị đơn ông T2 không đồng ý xác nhận ranh giới và phát sinh tranh chấp.

Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại diện tích lấn chiếm ký hiệu A với diện tích 35.5m², loại đất cây lâu năm, theo Bản trích đo địa chính số 487 được Văn phòng đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C đo vẽ ngày 31/7/2024. Đồng thời tháo dỡ di dời tài sản trên đất theo ghi nhận tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/5/2024 để giao trả lại đất cho nguyên đơn bà Trần Ngọc T sử dụng.

* Bị đơn ông Trần Ngọc T2 trình bày: hiện thửa đất số 01, tờ bản đồ số 04 do ông đứng tên sử dụng, theo Giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BA 118029 theo số vào sổ cấp giấy chứng nhận CQ00002, được Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 10/12/2009 và thửa đất nhiều lần cấp đổi, chỉnh lý như nguyên đơn trình bày trên, đất tọa lạc tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc đất do cha, mẹ tặng cho và sử dụng ổn định lâu dài cho đến hiện nay. Trước đây vào năm 2021 ông xây dựng lại căn nhà phủ thờ nên di dời

căn nhà cũ ra phía sau, nên có chừa lại một khoảng trống phần diện tích đất này tiếp giáp ranh thửa đất 1495 của bà T. Thời gian gần đây bà T có ý định chuyển nhượng thửa đất cho người khác nên khi đo đạc để làm thủ tục chuyển nhượng thì bà T đã chỉ bao trùm luôn diện tích đất khoảng trống mà ông đã chừa lại và cho rằng bị đơn lấn chiếm đất của nguyên đơn và yêu cầu giao trả lại diện tích đất ký hiệu A theo bản trích đo địa chính và tháo dỡ di dới tài sản phần mái hiên trên đất theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17/5/2024, nên ông không đồng ý. Đồng thời đề nghị Tòa án làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T cấp từ nằm 2007 đến nay Quốc lộ I đã được nâng cấp mở rộng nên phần đất giáp lộ của bà T cũng bị ảnh hưởng và xem xét thủ tục ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 72/2024/DSST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc T về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Ngọc T2 giao trả lại diện tích đất tranh chấp;

Công nhận diện tích đất 35.5m² loại đất cây lâu năm, ký hiệu A, theo Bản trích đo địa chính số 487/VPĐKĐĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C thuộc quyền quản lý sử dụng của nguyên đơn.

Buộc bị đơn tháo dỡ di dời tài sản trên đất là mái hiên tọa lạc trên phần không gian phần đất tranh chấp; về kết cấu, kích thước được ghi nhận tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/5/2024.

Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 856134, số vào sổ cấp giấy “H”01573 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 14/5/2007 cho bà Trần Ngọc T đứng tên. Nguyên đơn bà Trần Ngọc T được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Bản trích đo địa chính số 487/VPĐKĐĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C và thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có) đối với phần đất được quyền sử dụng nêu trên theo quy định.

Vị trí, kích thước các cạnh và hình thể được xác định theo Bản trích đo địa chính số 487/VPĐKĐĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 do Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C (có bản trích đo kèm theo).

Trường hợp các đương sự không tự nguyện thực hiện thì có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự theo thẩm quyền giải quyết theo quy định.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử phía bị đơn ông Trần Ngọc T2 đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị G trình bày: Phần đất tranh chấp tại vị trí A bị đơn có quá trình sử dụng lâu dài nhưng nguyên đơn không tranh chấp, nếu buộc bị đơn giao trả vị trí A cho nguyên đơn thì phần đất của nguyên đơn bị dôi dư 5,9m². Bị đơn đề nghị công nhận 5,9m² cho bị đơn vì phần đất của nguyên đơn dôi dư nếu tính luôn phần tranh chấp.

Phía đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Hiện tại nếu không tính phần đất tranh chấp thì đất của bị đơn đã dôi dư. Bản án án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên đề nghị giữ nguyên.

Đối với phần vật kiến trúc của bị đơn trên phần đất tranh chấp. Nguyên đơn đồng ý hỗ trợ cho bị đơn di dời theo giá thẩm định tài sản là 1.772.400 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thể hiện phần đất của nguyên đơn giáp với phần đất của bị đơn. Phần đất của nguyên đơn thuộc thửa 1495, tờ bản đồ số 04, diện tích được cấp theo giấy chứng nhận là 404m²; diện tích qua đo đạc thực tế có diện tích là 374.4m², thiếu 29,6m². Diện tích tranh chấp 35.5m², cộng 02 phần diện tích: 374.4m² + 35.5m² = 409.9m², như vậy dư 5.9m² so với giấy chứng nhận được cấp. Phần đất của bị đơn tại thửa 01, diện tích được cấp theo giấy chứng nhận là 656.9m²; diện tích qua đo đạc thực tế là 667.2m² (dư 10.3m² so với giấy), diện tích tranh chấp 35.5m², cộng 02 phần diện tích: 667.2m² + 35.5m² = 702.7m², như vậy dư 36.5m² so với giấy chứng nhận được cấp. Như vậy, nếu cộng phần đất tranh chấp cho nguyên đơn hay bị đơn thì diện tích đất của cả hai bên đều dư, tuy nhiên phần đất của bị đơn dư nhiều hơn. Do đó, cần căn cứ vào hình thể thửa đất và các cạnh chiều ngang và chiều dài theo như bản mô tả ranh đất mà các bên đã ký vòa năm 2017 để làm căn cứ giải quyết vụ án. Qua đối chiếu chiều ngang, chiều dài các cạnh của thửa đất số 1495 và số 01 theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp so với chiều ngang, chiều dài các cạnh được đo đạc thực tế thể hiện trên bản trích đo địa chính đối với thửa 1495 theo giấy lần lượt là 52.5m và 52.4m so với chiều dài đo đạc thực tế lần lượt chỉ là 50.84m và 51.35m (thiếu so với giấy) chiều ngang hai cạnh là như nhau, như vậy phần đất của nguyên đơn dư so với giấy được cấp là do sai số nên việc Tòa án cấp sơ thẩm công nhận phần

đất dư là 5,9m² cho nguyên đơn là phù hợp. Hơn nữa, căn cứ vào hình thể thửa đất thể hiện vị trí đất tranh chấp ký hiệu A tại bản trích đo địa chính số 487 là thuộc thửa đất 1495 của nguyên đơn, nếu cộng phần đất tranh chấp cho bị đơn thì không phù hợp với hình thể thửa đất của bị đơn.

Đối với tài sản tranh chấp là mái hiên, Tòa án cấp sơ thẩm không buộc nguyên đơn trả lại giá cho bị đơn là thiếu sót. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm đại diện nguyên đơn tự nguyện trả lại giá trị tài sản theo biên bản định giá là 1.772.400 đồng, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích như trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn yêu cầu bác đơn khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn trả lại giá trị tài sản tranh chấp.

Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp không nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc T2. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn trả lại giá trị tài sản tranh chấp là 1.772.400 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét.

[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại diện tích lấn chiếm ký hiệu A với diện tích 35.5m², loại đất cây lâu năm, theo Bản trích đo địa chính. Bị đơn không đồng ý cho rằng đất do cha mẹ tặng cho bị đơn và sử dụng ổn định lâu dài cho đến hiện nay, trước đây vào năm 2021 bị đơn xây dựng lại căn nhà phủ thờ nên di dời căn nhà cũ ra phía sau, nên có chừa lại một khoảng trống phần diện tích đất này. Nguyên đơn hợp thức hóa đã chỉ bao trùm luôn diện tích đất khoảng trống mà bị đơn đã chừa lại và cho rằng bị đơn lấn chiếm đất.

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1495, tờ bản đồ số 04, diện tích được cấp theo giấy chứng nhận là 404m²; diện tích qua đo đạc thực tế gồm: diện tích chưa tính phần đất tranh chấp là 374.4m², diện tích tranh chấp 35.5m², cộng 02 phần diện

tích: 374.4m² + 35.5m² = 409.9m², như vậy dư 5.9m² so với giấy chứng nhận được cấp.

Bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 01, tờ bản đồ số 04, diện tích được cấp theo giấy chứng nhận là 656.9m²; diện tích qua đo đạc thực tế gồm: diện tích chưa tính phần đất tranh chấp là 667.2m² (dư 10.3m² so với giấy), diện tích tranh chấp 35.5m², cộng 02 phần diện tích: 667.2m² + 35.5m² = 702.7m², như vậy dư 36.5m² so với giấy chứng nhận được cấp.

Hội đồng xét xử thấy rằng, diện tích của nguyên đơn qua đo đạc thực tế nếu tính luôn phần diện tích tranh chấp ký hiệu A có dư 5.9m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, đối với bị đơn diện tích qua đo đạc thực tế chưa tính diện tích tranh chấp thì diện tích thửa đất số 01 đã dư 10.3m² so với diện tích theo giấy chứng nhận được cấp.

Đối chiếu hình thể thửa đất được cấp giấy chứng nhận và qua đo vẽ thực tế thể hiện: Phần đất của bị đơn không có vị trí A trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chiều dài các cạnh của thửa đất số 1495 và số 01 theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp so với chiều ngang, chiều dài các cạnh được đo đạc thực tế thể hiện trên bản trích đo địa chính cơ bản đều phù hợp số liệu với nhau, thậm chí một số cạnh đo đạc thực tế còn thiếu so với giấy như cạnh chiều dài thửa đất 1495 theo giấy lần lượt là 52.5m và 52.4m so với chiều dài đo đạc thực tế lần lượt chỉ là 50.84m và 51.35m, chiều ngang hai cạnh là như nhau. Phần đầu ngoài diện tích đất của bị đơn là 4,1m nhưng đo đạc thực tế là 5,96m. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất là của cha, mẹ cho và thực hiện thủ tục đo đạc, tách giấy đất từ năm 2007 cho các anh, em sử dụng ổn định đến nay, riêng bị đơn ông T2 nhiều lần đo đạc, chỉnh lý, tách giấy đối với thửa đất số 01 đến hiện nay các cạnh qua đối chiếu theo giấy và thực tế đều phù hợp, cho thấy việc sử dụng đất là ổn định.

Bị đơn không chứng minh diện tích đất nhiều hơn so với giấy chứng quyền sử dụng đất được cấp. Nếu tính luôn phần đất tranh chấp thì đất của bị đơn sẽ dôi dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Bị đơn cho rằng thời điểm mở rộng Quốc lộ I có lấy một phần diện tích thửa đất cuả nguyên đơn. Tuy nhiên, cơ quan chuyên môn thì xác định thửa đất 1495 do bà Trần Ngọc T đứng tên không ảnh hưởng dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ I, nên không thực hiện bồi thường, hổ trợ và không ban hành Quyết định thu hồi đất đối với thửa đất của bà T. Bị đơn có ý kiến việc đo đạc trước đây để tách giấy cho nguyên đơn là đo từ tim lộ trở vào, xét lời trình bày này là không có cơ sở chấp nhận do không có chứng cứ, chứng minh và trong quá trình đo đạc trước đây để thực hiện thủ tục cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên đương sự đã thể hiện rõ. Mặc dù, nếu công phần diện tích tranh chấp cho bên bên đương sự thì vẫn dôi dư nhưng bị đơn dôi dư nhiều hơn và hình thể thửa đất của bị đơn không đúng với hình thể được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn.

Từ cơ sở phân tích trên cho thấy diện tích đất tranh chấp ký hiệu A tại bản trích đo địa chính số 487 là thuộc diện tích thửa đất 1495, tờ bản đồ số 04, hiện do bà Trần Ngọc T đứng tên quyền sử dụng, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên giữ nguyên.

[3] Về công trình xây dựng trên phần đất tranh chấp: Bị đơn xây dựng công trình trên đất trị giá 1.772.400 đồng. Bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn tự tháo dỡ di dời nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đại diện nguyên đơn đồng ý hỗ trợ chi phí này cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận và sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm do nguyên đơn tự nguyện.

[4] Xét hai thửa hiện nay của nguyên đơn và bị đơn đã được đăng ký thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1 – Chi nhánh C2 (V), theo trình bày của bị đơn tại phiên tòa hiện khoản vay chưa đáo hạn ngân hàng. Phần tranh chấp này diện tích nhỏ không ảnh hưởng đến nhiều đến quyền lợi ngân hàng nên Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng tham gia là phù hợp.

[5] Về chi phí tố tụng: Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản: bị đơn phải chịu 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm ngàn đồng), nguyên đơn đã tạm ứng trước nên bị đơn có trách nhiệm nộp trả lại nguyên đơn.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn ông Trần Ngọc T2 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T2 chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005552 ngày 19/9/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt thành tiền án phí. Ông T2 đã nộp xong.

[8] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điều 6, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 163, 164, 166, 175 Bộ luật dân sự 2015;

Điều 166, 170, 202, 203 Luật đất đai 2013;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Ngọc T2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc T về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Ngọc T2 giao trả lại diện tích đất tranh chấp;

  1. Công nhận diện tích đất 35.5m² loại đất cây lâu năm, ký hiệu A, theo Bản trích đo địa chính số 487/VPĐKĐĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C thuộc quyền quản lý sử dụng của nguyên đơn.

    Buộc bị đơn tháo dỡ di dời tài sản trên đất là mái hiên tọa lạc trên phần không gian phần đất tranh chấp; về kết cấu, kích thước được ghi nhận tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/5/2024.

    Bà Trần Ngọc Thỗ trợ chi phí di dời cho ông Trần Ngọc T2số tiền 1.772.400 đồng.

    Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 856134, số vào sổ cấp giấy “H”01573 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 14/5/2007 cho bà Trần Ngọc T đứng tên. Nguyên đơn bà Trần Ngọc T được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Bản trích đo địa chính số 487/VPĐKĐĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C và thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có) đối với phần đất được quyền sử dụng nêu trên theo quy định.

    Vị trí, kích thước các cạnh và hình thể được xác định theo Bản trích đo địa chính số 487/VPĐKĐĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 do Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C (có bản trích đo kèm theo).

    Trường hợp các đương sự không tự nguyện thực hiện thì có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự theo thẩm quyền giải quyết theo quy định.

  2. Về chi phí tố tụng: Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản: bị đơn phải chịu 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm ngàn đồng), nguyên đơn đã tạm ứng trước nên bị đơn có trách nhiệm nộp trả lại nguyên đơn.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn ông Trần Ngọc T2 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T2 chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005552 ngày 19/9/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt thành tiền án phí. Ông T2 đã nộp xong.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

Thành viên Hội đồng xét xử

Nguyễn Thị Trang Thư - Võ Bích Hải

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/DS-PT ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 31/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger