|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 31/2024/DS-ST Ngày: 15 - 8 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hiền và ông Phạm Xuân Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Trang Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu, Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 36/2024/TLST-TCDS ngày 23 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa, các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q,
Địa chỉ: Số A L, phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Q1 - Ngân hàng TMCP Q, người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh D, chức vụ: Tổng giám đốc; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Văn Đ, chức vụ: Giám đốc chi nhánh Công ty M; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trương Phương N, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ (theo Giấy uỷ quyền số 300/2024/UQ-MBAMC ngày 15/4/2024), địa chỉ: Tầng C, số A L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, ông N có mặt.
- Bị đơn: Chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ ba.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ ba.
+ Ngân hàng TMCP B2, địa chỉ: Tòa nhà C, A T, quận H, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S, chức vụ: Tổng Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Q2. Ủy quyền lại cho ông Trần Duy H, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ: Số F T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình (theo văn bản ủy quyền số 571/2024/UQ-QB ngày 16 tháng 7 năm 2024), ông H có mặt.
+ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q, địa chỉ: Số A đường H, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn H1, chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung H2, chức vụ: Phó Giám đốc, theo Văn bản cử người tham gia tố tụng số 2138/STNMT-TTr ngày 09 tháng 7 năm 2024, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15/4/2024, bản tự khai và quá trình giải quyết, xét xử vụ án, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (gọi tắt là MB) - ông Trương Phương N trình bày:
Ngày 16/5/2022, Ngân hàng TMCP Q đã ký với chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 hợp đồng tín dụng số 21344.22.510.16222067.TD với hạn mức tín dụng được cấp là 2.300.000.000 đồng, mục đích cho vay bổ sung vốn nuôi tôm, thời hạn cho vay 09 tháng, lãi suất 10,4%/năm theo Giấy nhận nợ ngày 10/3/2023 số LD2306907649, điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần.
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay của chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1, ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L đã thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, diện tích 299,0m²; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 284680, số vào sổ CS 02958 do Sở TNMT tỉnh Q cấp ngày 05/05/2020 đứng tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L. Việc thế chấp đã được ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L và M1 ký Hợp đồng thế chấp số 24102.22.510.16222067.BĐ ngày 16/05/2022 được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Quảng Bình và được đăng ký Giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Q theo đúng quy định của pháp luật.
Sau khi vay vốn, chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ nêu trên. Đến ngày 26/9/2023, chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 không trả lãi đúng hạn, đến ngày 11/12/2023 đã để khoản vay bị quá hạn và đến nay khoản vay đã trở thành nợ xấu. Tính đến ngày 15/8/2024, dư nợ của chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 tại M1 theo Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ nói trên là: Nợ gốc 2.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 61.681.528 đồng, nợ lãi quá hạn 208.625.751 đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 để yêu cầu trả nợ và yêu cầu các bên thế chấp bàn giao tài sản bảo đảm để xử lý theo đúng quy định nhưng bên vay và bên thế chấp không thực hiện và cố tình chây ì không hợp tác. MBAMC đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng và các bên thế chấp theo đúng quy định.
Vì vậy, Ngân hàng TMCP Q yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng cùng Khế ước nhận nợ đính kèm đã ký giữa hai bên với số tiền tính đến hết ngày xét xử là 2.570.307.279 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 61.681.528 đồng, nợ lãi quá hạn 208.625.751 đồng và số tiền nợ lãi, tiền phạt phát sinh tính theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ đính kèm đã ký kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đề nghị thì Ngân hàng TMCP Q yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý, phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, diện tích 299,0m²; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 284680, số vào sổ CH CS 02958 do Sở TNMT tỉnh Q cấp ngày 05/05/2020 đứng tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L. Việc thế chấp đã được ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L và M1 ký Hợp đồng thế chấp số 24102.22.510.16222067.BĐ ngày 16/05/2022 được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Quảng Binh và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Q. Nếu số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Yêu cầu chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 phải chịu chi phí tố tụng để trả lại cho Ngân hàng Q.
Tại Bản tự khai ngày 07 tháng 5 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Ngô Văn Đ1 trình bày: Ngày 16/5/2022, vợ chồng anh có vay tại Ngân hàng TMCP Q Chi nhánh Q2 với tổng số tiền 2.300.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 21344.22.510.16222067.TD, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất theo Giấy nhận nợ ngày 10/3/2023 là 10,4%/năm.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, bố mẹ anh là ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L có thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, diện tích 299,0m²; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 284680, số vào sổ CS 02958 do Sở TNMT tỉnh Q cấp ngày 05/05/2020 đứng tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L tại Hợp đồng thế chấp số 24102.22.510.16222067.BĐ ngày 16/05/2022 được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Quảng Bình và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Q.
Quá trình sử dụng vốn vay, vợ chồng anh vẫn nghiêm túc trả lãi đầy đủ theo hợp đồng nhưng khoảng từ tháng 10/2023, gia đình anh gặp khó khăn về tài chính nên chậm trả lãi cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh thanh toán số tiền gốc và lãi, vợ chồng anh thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và mong Ngân hàng tạo điều kiện để vợ chồng anh sắp xếp thời gian trả nợ dần cho Ngân hàng.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15 tháng 5 năm 2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị L trình bày: Ngày 16 tháng 5 năm 2022, B và ông Ngô Văn V có ký Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh Q2 để cho con ruột là Ngô Văn Đ1 và Mai Thị D1 vay tiền tại Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh Q2. Cụ thể, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, diện tích 299,0m²; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 284680 do Sở TNMT tỉnh Q cấp ngày 05/05/2020 đứng tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L. Hiện nay, gia đình bà gặp nhiều khó khăn, con trai bà nuôi tôm bị thua lỗ nên chậm trả lãi cho Ngân hàng, mong Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để gia đình sắp xếp trả nợ dần.
Bị đơn chị Mai Thị D1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn V đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt để trình bày ý kiến của mình về việc Ngân hàng khởi kiện. Tòa án đã tiến hành xác minh, chị D1, ông V đang làm ăn sinh sống tại địa phương.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP B2 trình bày: Ông Ngô Văn B1, ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L hiện nay đang vay vốn tại Ngân hàng TMCP B2 với tổng số tiền dư nợ tính đến hết ngày 15/8/2024 là 1.712.486.067 đồng (trong đó nợ gốc 1.559.999.992 đồng, nợ lãi trong hạn 53.368.763 đồng, nợ lãi quá hạn 67.507.397 đồng, nợ lãi chậm trả 807.567 đồng, nợ thẻ tín dụng 30.802.348 đồng). Khoản vay có tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 454, tờ bản đồ số 9, diện tích 519,2m² tại thôn T, xã H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV284682 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 05/5/2020 mang tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502021052 ngày 18/3/2021 đã được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Hiện nay, nhà của ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L xây dựng trên thửa đất 456 lấn sang thửa đất 454 đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP B2, chi nhánh Q2 là 5,4m². Phía Ngân hàng TMCP B2 có ý kiến: Đề nghị ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tháo dỡ tài sản trên đất để hoàn trả lại phần diện tích đã lấn chiếm, giữ nguyên hiện trạng thửa đất số 454 theo đúng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đật số CV284682 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 05/5/2020 mang tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L.
Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q có văn bản trình bày: Ngày 12/3/2020, ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 191300, thửa đất số 447, tờ bản đồ số 9, diện tích 1239,5m² đất ở tại nông thôn tại xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Sau đó ông V, bà L có nhu cầu tách thửa đất có thông tin nêu trên thành 04 thửa đất và tặng cho 01 thửa đất, cụ thể:
- Thửa đất 453, tờ bản đồ số 9, diện tích 169,2m² đất ở tại nông thôn tặng cho ông Ngô Văn Đ1 và bà Mai Thị D1 theo Hợp đồng số 21 lập tại UBND xã H ngày 17/4/2020; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 284683 mang tên Ngô Văn Đ1 và bà Mai Thị D1.
- 03 thửa đất còn lại do ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L là chủ sử dụng, bao gồm:
- Thửa đất số 454, tờ bản đồ số 9, diện tích 519,2m² đất ở nông thôn, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 284682 mang tên ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L;
- Thửa đất số 455, tờ bản đồ số 9, diện tích 252,1m² đất ở nông thôn, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 284681 mang tên ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L;
- Thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, diện tích 299,0m² đất ở nông thôn, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 284680 mang tên ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L;
Toàn bộ hồ sơ đo đạc, tách thửa không có bất kỳ giấy tờ hoặc nội dung nào chứng minh các thửa đất nêu trên có tài sản trên đất. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q đã thẩm tra hồ sơ, xác nhận đủ điều kiện cấp tách thửa, cấp Giấy chứng nhận theo quy định.
Đối với quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật đất đai năm 2013, thì việc bổ sung quyền sở hữu tài sản không bắt buộc đối với tất cả người sử dụng đất; khi có nhu cầu tách thửa, chuyển nhượng quyền sử dụng đất...tại thửa đất hiện hữu, thì việc bổ sung văn bản thỏa thuận về tài sản trên đất giữa các bên liên quan, có xác nhận của chính quyền địa phương để hạn chế tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng, chủ sở hữu tài sản là thực sự cần thiết. Tuy vậy, do tài sản này chưa được đăng ký quyền sở hữu; đồng thời toàn bộ hồ sơ lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q không có bất kỳ nội dung nào khẳng định tại thời điểm tách thửa đã tồn tại ngôi nhà ở của ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L nên không thuộc chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký đất đai.
Theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q, ngày 15 tháng 5 năm 2024, Hội đồng thẩm định tiến hành thẩm định tài sản thế chấp của ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L gồm: Thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, vị trí thửa đất: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo hiện trạng sử dụng có diện tích 324,3m², có tứ cận: Phía Đông Bắc giáp với đường giao thông (từ điểm 1 đến điểm 2) kích thước 10,16m, phía Đông Nam giáp với đường giao thông (từ điểm 2 đến điểm 7) có kích thước 31,50m, phía Tây Nam giáp với thửa đất 455 (từ điểm 7 đến điểm 9) có kích thước 10,29m, phía Tây Bắc giáp với thửa đất 454 (từ điểm 9 đến điểm 1) có kích thước 30,10m. Hiện trạng diện tích sử dụng đất lớn hơn so với diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 25,3m², trên đất có 01 ngôi nhà 03 tầng diện tích 149,3m², có mái tôn diện tích 92,1m²; hàng rào (từ điểm 1 đến điểm 2) có kích thước 10,6m, (từ điểm 2 đến điểm 4) có kích thước 1,08m, (từ điểm 4 đến điểm 5) có kích thước 21,74m, đất không tranh chấp với ai. Phía Đông Nam giáp với đường giao thông (từ điểm 4 đến điểm 7) lấn ra đường 19,9m², phía Tây Bắc giáp với thửa đất 454 (từ điểm 9 đến điểm 1) lấn sang phần đất của thửa 454 là 5,4m² (thửa đất này của ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L).
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xét xử buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc, nợ lãi đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 15/8/2024) theo các hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết, tổng số tiền 2.570.307.279 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 61.681.528 đồng, nợ lãi quá hạn 208.625.751 đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phát sinh tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ ba, đề nghị HĐXX xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng; việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các điều 318, 319, 325, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tính đến ngày xét xử tổng cộng là 2.570.307.279 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 61.681.528 đồng, nợ lãi quá hạn 208.625.751 đồng. Trường hợp chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng Q đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản để thu hồi nợ vay theo Hợp đồng đã thế chấp.
Về án phí dân sự: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 phải chịu án phí dân sự.
Về chi phí thẩm định: Đề nghị HĐXX buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ để trả lại cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP Q khởi kiện bị đơn chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại thôn T, xã H, huyện Q. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập và Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét theo nội dung hợp đồng tín dụng vay tiền, yêu cầu trả nợ của Ngân hàng TMCP Q thấy rằng: Ngày 16/5/2022, Ngân hàng TMCP Q đã ký với chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 hợp đồng tín dụng số 21344.22.510.16222067.TD với hạn mức tín dụng được cấp là 2.300.000.000 đồng, mục đích cho vay bổ sung vốn nuôi tôm, thời hạn cho vay 09 tháng, lãi suất 10,4%/năm theo Giấy nhận nợ ngày 10/3/2023 số LD2306907649.
Đến kỳ hạn trả nợ lãi ngày 26/9/2023, kỳ hạn trả nợ gốc 11/12/2023; chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 không trả nợ lãi, nợ gốc cho Ngân hàng theo đúng cam kết; Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh Q2 đã nhiều lần thông báo nợ quá hạn, vi phạm hợp đồng, xử lý tài sản đảm bảo, đôn đốc, kiểm tra, yêu cầu chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 trả nợ, nhưng chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 còn nợ Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh Q2 tổng số tiền 2.570.307.279 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 61.681.528 đồng, nợ lãi quá hạn 208.625.751 đồng.
Xét hợp đồng vay vốn giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên phát sinh hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Nhưng vì bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên việc khởi kiện và yêu cầu bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn là có căn cứ theo quy định tại các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự và theo thỏa thuận Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 21344.22.510.16222067.TD, ngày 16/5/2022.
[2.2] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 21344.22.510.16222067.TD, ngày 16/5/2022 mà hai bên đã ký kết, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lãi suất theo Giấy nhận nợ số LD2306907649 ngày 10/3/2023 là 10,4%/năm. Thỏa thuận lãi suất này không vượt quá và đúng quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết. Hội đồng xét thấy rằng: Sau khi vay tiền, chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 trả lãi đầy đủ nhưng đến ngày 26/9/2023 đến kỳ hạn trả nợ lãi, chị D1 và anh Đ1 không trả cho Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh Q2 là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn tại hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Sau kỳ hạn trả nợ gốc ngày 11/12/2023, chị D1 và anh Đ1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q nên Ngân hàng TMCP Q chuyển thành nợ quá hạn và tính lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn là phù hợp với quy định tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng, Điều 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Như vậy, yêu cầu của Nguyên đơn về trả tiền lãi là có căn cứ nên cần được xem xét chấp nhận, buộc chị D1 và anh Đ1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền lãi 269.947.279 đồng (nợ lãi trong hạn 61.681.528 đồng, nợ lãi quá hạn 208.625.751 đồng).
[3] Về yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q trong trường hợp chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 không trả được số nợ trên thì đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy, khi vay tiền để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng vay vốn, giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 24102.22.510.16222067.BĐ ngày 16/05/2022, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, diện tích 299,0m²; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 284680 do Sở TNMT tỉnh Q cấp ngày 05/05/2020 đứng tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L.
Như vậy, việc ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L tự mình thực hiện việc thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đúng quy định của pháp luật. Các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thi hành án là có căn cứ.
Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với 456, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình thể hiện: Diện tích đất thực tế sử dụng là 324,3m², lớn hơn so với diện tích được ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 25,3m², cụ thể phía Đông Nam hàng rào lấn ra đường giao thông (từ điểm 4 đến điểm 7) 19,9m², phía Tây Bắc giáp với thửa đất 454 (từ điểm 9 đến điểm 1) tường nhà lấn sang phần đất của thửa 454 là 5,4m², thửa đất này của ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP B2. Phần diện tích xây hàng rào lấn sang diện tích đường giao thông khi thi hành án buộc phải phá dỡ.
Đối với diện tích tường nhà lấn sang diện tích thửa đất 454, căn cứ các tài liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q, UBND xã H cung cấp thì ngôi nhà do ông Ngô Văn V và bà Mai Thị L xây dựng sau thời điểm tách thửa và chưa đăng ký quyền sở hữu tài sản, việc xây nhà lấn sang diện tích đất của thửa đất 454 thuộc trách nhiệm của ông V, bà L và của Ngân hàng trước khi thẩm định cho vay; mặt khác Ngân hàng TMCP B2 đề nghị ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tháo dỡ tài sản trên đất để hoàn trả lại phần diện tích đã lấn chiếm, giữ nguyên hiện trạng thửa đất số 454 theo đúng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV284682 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 05/5/2020 mang tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L; phía Ngân hàng TMCP Q cũng đề nghị Tòa án xử lý tài sản theo đúng diện tích đất được cấp đã được thế chấp. Do đó, cần buộc ông V và bà L phải phá dỡ trước khi xử lý tài sản đảm bảo là phù hợp.
Căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số 21344.22.510.16222067.TD, ngày 16/5/2022; Điều 6 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 24102.22.510.16222067.BĐ ngày 16/05/2022, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP Q.
[4] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP Q đã nộp 5.000.000 đồng; đã chi phí hết 3.500.000 đồng. Cần buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 phải chịu 3.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tài sản để trả lại cho Ngân hàng TMCP Q theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 773 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 318, 319, 325, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q. Buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền 2.570.307.279 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 61.681.528 đồng, nợ lãi quá hạn 208.625.751 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng TMCP Q thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 24102.22.510.16222067.BĐ ngày 16/05/2022, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, diện tích 299,0m²; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 284680 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 05/05/2020 đứng tên ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L. Buộc ông Ngô Văn V, bà Mai Thị L phá dỡ tường rào phía Đông Nam lấn ra đường giao thông (từ điểm 4 đến điểm 7) 19,9m²; phá dỡ tường nhà phía T (từ điểm 9 đến điểm 1) lấn sang phần đất của thửa 454 là 5,4m², (có sơ đồ kèm theo).
Về chi phí tố tụng: Buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 phải nộp 3.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tài sản để trả lại cho Ngân hàng TMCP Q.
Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Mai Thị D1 và anh Ngô Văn Đ1 phải nộp 83.406.145 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP Q được nhận lại 40.670.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003827 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 31/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử vụ án TCHĐTD giữa Ngân hàng MB và chị Mai Thị D, anh Ngô Văn Đ
