TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 06 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Chỉnh
Bà Nông Thị Vân
- Thư ký phiên toà: Ông Lâm Thái Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Lương Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 06/12/2024 tại trụ sở Nhà văn hóa tổ B, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 24/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 22/11/2024 đối với bị cáo:
- Triệu Tạ L, sinh năm 1981, tại huyện H, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái: Không; số CCCD [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1 cấp ngày 25/9/2022; con ông: Triệu Xành S, sinh năm 1952 và bà Phượng Mùi C, sinh năm 1954; vợ: Triệu Mùi T, sinh năm 1983; con: Có 02, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Công ty Cổ phần T2; địa chỉ: Thủy điện M, thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trọng N, sinh năm 1991; chức vụ Giám đốc Công ty Cổ phần T2;
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Công T1, sinh năm 1994; chức vụ: Cán bộ kỹ thuật Công ty Cổ phần T2; nơi cư trú: thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình; hiện đang tạm trú: Thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Triệu Mùi T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- + Anh Hoàng Tiến D, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 21/7/2024, Triệu Tạ L, sinh năm 1981, trú tại thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang, sau khi ăn cơm, uống rượu tại công trường nhà máy M - Công ty Cổ phần T2 thuộc thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang, trên đường về Liềm nhìn thấy 01 cuộn dây cáp điện nhôm vặn xoắn loại có 04 dây đơn, nhãn hiệu 0,6x1KV-ABC AL/XLPE cable 4 x 240 SQM TAN PHU của Công ty Cổ phần T2 để ở mép đường bê tông của công trường thủy điện, L nảy sinh ý định trộm dây điện nên L về nhà mình lấy 01 chiếc kìm cộng lực dài 76 cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen quay lại vị trí để cuộn dây cáp điện cắt lấy 04 đoạn dây cáp điện có tổng chiều dài 30,6m rồi mang đi cất tại bụi cây cách đó khoảng 100m. Khoảng 06 giờ ngày 22/7/2024 L bảo với vợ là Triệu Mùi T, hôm qua vừa xin được đoạn dây điện và bảo T cùng với L đi tước vỏ dây điện lấy lõi về để rào vườn, T đồng ý. Khi đến vị trí cất dấu dây cáp điện trộm cắp được L dùng kìm cộng lực cắt thành 36 đoạn có chiều dài khác nhau rồi L và T mỗi người dùng một con dao bóc vỏ dây cáp ra. Khoảng 06 giờ 50 phút cùng ngày Hoàng Tiến D là công nhân nhà máy M thấy cuộn dây cáp điện bị mất trộm một phần nên đã báo cho Nguyễn Công T1 là công nhân nhà máy M cùng đi tìm. Khi Hoàng Tiến D và Nguyễn Công T1 đi đến gần vị trí L và Triệu Mùi T đang bóc vỏ dây điện thì L nghe thấy tiếng động, L quay mặt lại nhìn thấy có người đi đến nên L bảo T cùng bỏ chạy, để lại hiện trường toàn bộ đoạn dây cáp điện trộm cắp được cùng 01 kìm cộng lực, 02 con dao, Triệu Mùi T bỏ lại 01 áo sơ mi dài tay có kẻ ô vuông màu đỏ, đen. Sau đó đại diện Công ty T2 đã trình báo Công an xã T về nội dung vụ việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 307/KL-HĐĐG ngày 28/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 30,6 mét dây cáp nhôm vặn xoắn ký hiệu 0,6x1KV-ABC AL/XLPE cable 4 x 240 SQM TAN PHU (loại cáp có 04 dây đơn) trị giá 4.590.000₫ (Bốn triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-QB ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Triệu Tạ L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Triệu Tạ L từ 7 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng và nghĩa vụ chịu án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với đề nghị của Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trùng khớp với lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Q trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 21/7/2024, tại công trường nhà máy M - Công ty Cổ phần T2, thuộc thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang, Triệu Tạ L có hành vi trộm cắp 30,6 mét dây cáp điện nhôm vặn xoắn loại có 04 dây đơn ký hiệu 0,6x1KV-ABC AL/XLPE cable 4 x 240 SQM TAN PHU của Công ty Cổ phần T2 có trị giá 4.590.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Do vậy hành vi trên của bị cáo L đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích của cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Song bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể, ở địa phương bị cáo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, chấp hành tốt theo giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Đối với Triệu Mùi T có hành vi cùng với bị cáo L dùng dao bóc vỏ bọc dây cáp điện để lấy lõi kim loại nhưng Triệu Mùi T không biết đây là tài sản do L phạm tội mà có nên không xem xét xử lý về hình sự đối với Triệu Mùi T.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo và đại diện theo ủy quyền của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận xong phần bồi thường dân sự, bị cáo bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần T2 số tiền 5.000.000 đồng, người đại diện theo ủy quyền của công ty đã nhận đủ số tiền 5.000.000 đồng. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện của bị hại không còn yêu cầu gì khác về phần trách nhiệm dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo đều không có thu nhập ổn định nên không có điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- 29 đoạn dây cáp điện vỏ màu đen, lõi kim loại màu trắng gồm: 08 đoạn có chiều dài 3,3 mét; 04 đoạn có chiều dài 3,9 mét; 08 đoạn có chiều dài 4,1 mét; 01 đoạn có chiều dài 3,7 mét; 04 đoạn có chiều dài 03 mét; 04 đoạn có chiều dài 04 mét;
- 07 đoạn dây cáp điện kim loại màu trắng gồm: 03 đoạn có chiều dài 3,7 mét; 04 đoạn có chiều dài 1,2 mét.
Những vật chứng trên là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty Cổ phần T2 nên cần trả lại cho bị hại theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
- 01 kìm cộng lực dài 76 cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 dao quắm dài 48 cm cả chuôi, bản dao rộng 03 cm, chuôi bằng gỗ; 01 con dao quắm dài 51 cm cả chuôi, bản dao rộng 03 cm, chuôi bằng gỗ là công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
- 07 đoạn vỏ bọc dây điện màu đen; 01 áo sơ mi dài tay có kẻ ô vuông màu đỏ, đen là vật không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Tạ L phạm tội Trộm cắp tài sản.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Tạ L 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Triệu Tạ L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Triệu Tạ L có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho Công ty Cổ phần T2 những vật chứng sau:
+ 29 đoạn dây cáp điện vỏ màu đen, lõi kim loại màu trắng gồm: 08 đoạn có chiều dài 3,3 mét; 04 đoạn có chiều dài 3,9 mét; 08 đoạn có chiều dài 4,1 mét; 01 đoạn có chiều dài 3,7 mét; 04 đoạn có chiều dài 03 mét; 04 đoạn có chiều dài 04 mét;
+ 07 đoạn dây cáp điện kim loại màu trắng gồm: 03 đoạn có chiều dài 3,7 mét; 04 đoạn có chiều dài 1,2 mét.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cộng lực dài 76 cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 dao quắm dài 48 cm cả chuôi, bản dao rộng 03 cm, chuôi bằng gỗ; 01 con dao quắm dài 51 cm cả chuôi, bản dao rộng 03 cm, chuôi bằng gỗ; 07 đoạn vỏ bọc dây điện màu đen; 01 áo sơ mi dài tay có kẻ ô vuông màu đỏ, đen.
Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang ngày 24/10/2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Triệu Tạ L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng)
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hải Phương |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Tạ Liềm phạm tội Trộm cắp tài sản
