Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HSST

Ngày: 17-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh An.

Ông Võ Trường Tam .

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Phan Sâm Rin – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh T, sinh ngày: 25/11/1991.

Tên gọi khác: Nị

Nơi thường trú: ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Long An; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: thợ bạc; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Tấn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án – tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 24/2011/HSST, ngày 07/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 26/2013/HSST, ngày 28/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 67/2015/HSST, ngày 25/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Bản án số 77/2019/HSST, ngày 18/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt

2

02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 26/3/2021 (đã xóa án tích). Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Minh H, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Cư trú: khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Người làm chứng: Trần Thanh B, sinh năm: 2000 (vắng mặt).

Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/01/2024 Trần Minh T nhờ người bạn làm chung tên Trần Thanh B chở đến nhà người quen tên T3, ở ấp P, xã P, huyện C để mượn tiền, B đồng ý. Trên đường đi đến nhà anh T3, khi đến đầu đường L, thuộc ấp P, xã P, T nhìn thấy 01 xe mô tô Airblade màu xám, biển số: 71C4-492.66 của anh Nguyễn Minh H đang đậu cặp lề đường, cốp xe đang mở (yên xe dựng lên), bên trong cốp xe có 01 cái ví da màu nâu. Sau khi tìm không gặp được người quen, B chở T đi về. Khi đi ngang xe mô tô nói trên thì T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản trong ví da lấy tiền tiêu xài. Khi xe của B cách xe của anh H khoảng 10m, T kêu B dừng xe lại cho T xuống xe đi vệ sinh. Lúc này, T đi bộ lại nơi đậu xe của anh H, lén lút lấy cái ví da rồi đi lại leo lên xe B. B nhìn thấy nên kêu T trả lại cái ví nhưng T không đồng ý. Nên B kêu T xuống xe, rồi B chạy xe về nhà. Sau đó, T kiểm tra trong cái ví có số tiền 16.000.000 đồng gồm 32 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, T lấy số tiền này rồi ném bỏ cái ví da ở bờ ruộng gần nơi lấy trộm tài sản. Qua truy xét, Cơ quan Công an mời Thức về làm việc, T đã thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp lại số tiền 16.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSCG, ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Minh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

3

Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho anh Trần Minh H1 là chủ sở hữu: số tiền 16.000.000 đồng, 01 (một) ví da màu nâu, 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) giấy phép lái xe, 01 (một) thẻ bảo hiểm, 02 (hai) thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Minh H và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hải M do Trần Minh T giao nộp, là phù hợp.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Qua điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Minh T khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 17/01/2024, tại đoạn đường L, thuộc ấp P, xã P, huyện C, bị cáo T lén lút lấy trộm số tiền 16.000.000 đồng trong ví da để trong cốp xe mô tô của anh Nguyễn Minh H dựng ven đường. Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 16.000.000 đồng, giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
  3. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
  4. [4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.

4

  1. [5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 76-77), bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  2. [6] Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Bản án số 24/2011/HSST, ngày 07/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 26/2013/HSST, ngày 28/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 67/2015/HSST, ngày 25/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Bản án số 77/2019/HSST, ngày 18/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 26/3/2021 (đã xóa án tích).
  3. [7] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
  4. [8] Đối với anh Trần Thanh B là người đi chung bị cáo T vào ngày 17/01/2024, nhưng khi thấy bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội, đã khuyên can và sau đó không đồng ý tiếp tục chở bị cáo T về, nên anh B không đồng phạm với T về việc trộm cắp tài sản, Cơ quan Công an không xem xét xử lý, là phù hợp.
  5. [9] Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Long An tạm giữ và hoàn trả cho anh Trần Minh H1 là chủ sở hữu: Số tiền 16.000.000 đồng, 01 (một) ví da màu nâu, 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) giấy phép lái xe, 01 (một) thẻ bảo hiểm, 02 (hai) thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Minh H và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hải M do Trần Minh T giao nộp, là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  6. [10] Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh H đã nhận lại tài sản, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 76-77) không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
  7. [10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban

5

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Minh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THA huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Cần Giuộc, ngày 17 tháng 4 năm 2024

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

6

Vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 17 tháng 4 năm 2024.

Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh An.

Ông Võ Trường Tam

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS, ngày 02/4/2024 đối với bị cáo: Trần Minh Thức.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Trần Minh Thức phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  2. Về Điều luật áp dụng:

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  3. Về hình phạt:

    Xử phạt: Trần Minh Thức 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  4. Các vấn đề khác:

    Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

    Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

7

Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 15 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

NGUYỄN THANH AN - VÕ TRƯỜNG TAM NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRần Minh T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger