|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Hương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lê Hữu Luân
2. Ông: Phạm Đình Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 28/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 04/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thái S. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 01/6/1998, tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 7/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng. Con ông: Trần Xuân L. Sinh năm: 1977. Con bà: Nguyễn Thị V.Sinh năm: 1978. Cả bố và mẹ đều lao động tự do và trú quán tại tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1996. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú quán tại tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Con: 01 đứa, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Quá trình nhân thân: Ngày 26/12/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, theo Khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, tại Bản án số 47/2017/HSST; đã chấp hành xong bản án (khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên không tính án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 17/01/2024 cho đến nay (Có mặt).
* Bị hại: 1. Công ty TNHH L2 do ông Nguyễn Văn M; sinh năm 1985(đại diện theo ủy quyền số 2512 ngày 21/12/2023); nghề nghiệp: Quản lý xưởng. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
2. Công ty TNHH V1 do ông Nguyễn Đình T1; sinh năm 1987(đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 21/12/2023); nghề nghiệp: Quản lý. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh: Trần Trung L1, sinh năm 1988; nghề nghiệp: Công nhân; trú tại: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt).
2. Ông: Võ Xuân H; sinh năm 1979; nghề nghiệp: Buôn bán; trú tại: Tổ D, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ, ngày 20/12/2023, Trần Thái S cầm theo chiếc kìm, rồi đi bộ đến bãi để ô tô của Công ty TNHH V1 (gọi tắt là Công ty V1), ở tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để lấy trộm bình ắc quy. Khi đi vào trong bãi để xe của Công ty V1 thấy chiếc xe ô tô tải BKS: 72H-012-82 đậu ở bãi để xe; sau khi quan sát không thấy người trông coi, Trần Thái S mở chiếc thùng đựng ắc quy ở bên thành xe và dùng kìm cắt dây điện nối bình ắc quy với xe ô tô, rồi lấy 02 chiếc bình ắc quy xe ô tô đưa đi cất dấu ở trong bụi cây ở gần bãi để xe, rồi đi về. Đến 09 giờ cùng ngày, Trần Thái S mượn xe mô tô BKS: 38K1-0721 của chú ruột là ông Trần Trung L1 (nói dối là mượn xe đi công việc) đi đến chỗ cất dấu 02 chiếc bình ắc quy trộm cắp được cất dấu trước đó, rồi dùng xe mô tô chở 02 chiếc ắc quy đưa đến bán cho ông Võ Xuân H, chủ cửa hàng bán đồ điện “Xuân Hùng” ở phường K, thị xã K được 450.000đ. Sau khi mất tài sản, Công ty V1 đã có đơn trình báo. Quá trình điều tra Công an thị xã K đã xác định Trần Thái S là người thực hiện hành vi trộm cắp đã triệu tập lên làm việc và Trần Thái S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tiến hành điều tra, Trần Thái S còn khai nhận. Khoảng 02 giờ, ngày 19/12/2023, Trần Thái S mang theo chiếc kìm, rồi đi bộ đến xưởng sửa chữa xe ô tô và máy chuyên dùng ở trong Công ty TNHH L2 (gọi tắt là Công ty L2), ở tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để lấy trộm bình ắc quy. Khi đi vào trong xưởng sửa chữa của Công ty L2 thì thấy chiếc máy xúc lật BKS: 29LA04870 đậu ở bãi để xe; sau khi quan sát không thấy người trông coi, Trần Thái S đi ra phía sau đuôi máy xúc lật, mở nắp thùng đựng bình ắc quy và dùng kìm cắt dây điện nối bình ắc quy với máy xúc lật, rồi lấy 02 chiếc bình ắc quy của máy xúc lật để xuống đất. Do bình ắc quy nặng, nên Trần Thái S lần lượt bê từng chiếc bình ắc quy đưa về nhà cất dấu trong chuồng lợn của gia đình để hôm sau đưa đi bán lấy tiền chi tiêu.
02 chiếc bình ắc quy của máy xúc lật BKS: 29LA-04870 mà Trần Thái S trộm cắp là của Công ty L2, ở tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, do ông Lê Đức T2, giám đốc Công ty L2 làm đại diện theo pháp luật. Theo kết luận định giá số 25 ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã K thì 02 chiếc bình ắc quy của máy xúc lật mà Trần Thái S trộm cắp của Công ty L2 trị giá 3.375.000 đồng.
02 chiếc bình ắc quy của xe ô tô BKS: 72H-01282 mà Trần Thái S trộm cắp là của Công ty V1, ở tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, do ông Nguyễn Vũ T3, giám đốc Công ty V1 làm đại diện theo pháp luật. Theo kết luận định giá số 24 ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã K thì 02 chiếc bình ắc quy của xe ô tô mà Trần Thái S trộm cắp của Công ty V1 trị giá 500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 33/CT - VKS-TXKA ngày 25 tháng 03 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Trần Thái S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và nhất trí như nội dung Quyết định truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Tĩnh H vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử; Tuyên bố bị cáo Trần Thái S phạm tội “Trộm cắp tài sản” và căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm b, Điểm r, Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 65, Bộ luật Hình sự xử phạt; Trần Thái S mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12-18 tháng. Về hình phạt bổ sung, trách nhiệm Dân sự: Không; về vật chứng: Căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 47, Bộ luật Hình sự. Điểm a, Điểm c, Khoản 2 Điều 106; Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm cắt dây dài 18cm. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, điều tra viên, kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục luật định, hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thái S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 19/12/2023, Trần Thái S, mang theo chiếc kìm và đi bộ đến xưởng sửa chữa xe ô tô và máy chuyên dùng của Công ty L2, ở tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, dùng kìm cắt dây điện lấy trộm 02 chiếc bình ắc quy của máy xúc lật BKS: 29LA-048.70, của Công ty L2, trị giá 3.375.000đ đưa về nhà cất dấu. Do biết hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nên bị cáo đã tự thú và giao nộp lại toàn bộ tài sản trộm cắp cho cơ quan điều tra Công an thị xã K.
Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã truy tố và đưa ra xét xử bị cáo Trần Thái S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không có gì oan sai.
[3]. Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, lỗi trong vụ án này là lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của doanh nghiệp, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản, mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội.
Trong vụ án này chỉ một mình bị cáo thực hiện hành vi.
[4]. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm tình tiết ở Khoản 1 nên bị cáo bị xét xử ở Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:
- * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Không.
- * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo; Tự nguyện bồi thường thiệt hại; gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Sau khi hành vi trộm cắp 02 chiếc bình ắc quy của Công ty V1 bị phát hiện, bị cáo đã khai nhận về hành vi trộm cắp trộm 02 chiếc bình ắc quy của Công ty L2 nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết Tự thú. Những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Điểm b, Điểm r, Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự.
[6]. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy rằng; bị cáo Trần Thái S là người có nhận thức, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, tuy nhiên, do coi thường kỷ cương pháp luật, đã có hành vi vi phạm pháp luật nên cần phải xử phạt nghiêm minh. Tuy nhiên khi lượng hình cân xem xét cho bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo trộm cắp có trị giá không lớn; bản thân luôn chấp hành đầy đủ mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; có 03 tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ, cần tạo cho bị cáo cơ hội để sửa chữa sai lầm, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù. Việc căn cứ Điều 65 - Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và phù hợp với Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản xẩy ra ngày 20/12/2023, trị giá tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ, nên hành vi không cấu thành tội phạm, cần được xem xét khi lượng hình đối với Trần Thái S.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức án trên mức khởi điểm như đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm.
- * Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với ông Võ Xuân H đã mua 02 chiếc bình ắc quy mà Trần Thái S trộm cắp, nhưng do ông H không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự;
Đối với ông Trần Trung L1 đã cho Trần Thái S mượn xe mô tô chở bình ắc quy đi tiêu thụ, nhưng ông L1 không biết S mượn xe để đi tiêu thụ tài sản trộm cắp nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[7]. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ các vật chứng bao gồm: Thu giữ của Trần Thái S 02 chiếc bình ắc quy, hiệu VARTA 12V-120Ah của máy xúc lật; 01 chiếc kìm dài 18cm, phần tay cầm bằng nhựa, màu đen- cam, lưỡi bằng kim loại, hình mỏ quạ; thu giữ của ông Võ Xuân H 02 chiếc bình ắc quy hiệu Enimac 12V-60Ah của xe ô tô tải. 04 chiếc bình ắc quy nêu trên đã trả lại cho Công ty TNHH L2 và Công ty TNHH V1 là chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử miễn xét. Còn chiếc kìm dài 18cm, phần tay cầm bằng nhựa, màu đen- cam, lưỡi bằng kim loại, hình mỏ quạ đây là công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về trách nhiệm Dân sự: Sau khi nhận lại bình ắc quy bị mất, Công ty TNHH L2 và Công ty TNHH V1 có đơn yêu cầu Trần Thái S bồi thường thiệt cho mỗi Công ty 500.000đ chi phí sửa chữa, lắp đặt lại các bình ắc quy và Trần Thái S đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của các bị hại. Đồng thời Trần Thái S đã trả lại cho ông Võ Xuân H số tiền 450.000đ tiền mua 02 chiếc bình ắc quy, nay Công ty L2 và Công ty V1 không có yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bán án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, Khoản 1 Điều 173; Điểm b, Điểm r, Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 65; Điểm a, Khoản 1 Điều 47, Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 331, Điều 333; Điểm a, Điểm c, Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Q, tuyên xử;
- Tuyên bố bị cáo: Trần Thái S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thái S 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16(Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án Hình sự 02(Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung; trách nhiệm Dân sự: Không.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc kìm dài 18cm, phần tay cầm bằng nhựa, màu đen- cam, lưỡi bằng kim loại, hình mỏ quạ.
(Vật chứng có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2024)
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thái S phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án về những vấn để trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hương |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 31
