Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 30/7/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Thuấn và ông Hoàng Văn Hào.
  • Thư ký phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Viết Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
  • Thư ký phiên toà tại điểm cầu thành phần: Ông Lâu Văn C - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa trung tâm: Ông Trương Văn Phú - Kiểm sát viên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa thành phần: Ông Phạm Viết T - Kiểm sát viên.
  • Cán bộ nhà tạm giữ Công an huyện M tại điểm cầu thành phần: Ông Lò Văn T1 – CB Cơ quan THAHS Công an huyện M.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến, điểm cầu Trung tâm tại phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Mường Lát và điểm cầu Thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa, đối với vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 14/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:

Vi Văn C1, sinh năm 1989; Tại: Xã Q, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Bản Xim, xã Q, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Thẻ CCCD số: [...], cấp ngày 07/01/2022; Con ông: Vi Văn P, sinh năm 1958, Con bà: Vi Thị H, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 07/3/2023 bị cáo chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/01/2024 chuyển tạm giam ngày 18/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vi Văn T2, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Bản X, xã Q, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Ông Vi Văn C2, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Bản X, xã Q, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K, trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh S, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 30 phút, ngày 12/01/2024, C1 gọi điện thoại cho Vi Văn T2 (người cùng bản với C1) và rủ T2 đi chơi, T2 nói không có xe máy. Khoảng 16 giờ cùng ngày, C1 đang đi bộ ở khu vực mỏ khai thác đá thuộc địa giới hành chính bản Pùng, xã Q, huyện M, thì thấy Thiếu điều khiển xe mô tô đến. Chấn liền gọi T2 dừng xe lại và rủ T2 đi xuống xã T, huyện M để đi chơi, thì T2 nói đang đi đón cháu đi học về và nói xe hết xăng. Chấn nói để C1 đưa tiền cho đi mua xăng, thì T2 đồng ý và bảo C1 đợi T2 đưa cháu về nhà rồi cùng đi chơi. Khi T2 quay lại thì C1 thấy T2 chở theo Hà Văn T3, sinh năm 2003, ở bản P, xã Q huyện M. Sau đó, T2 dừng xe lại để C1 điều khiển xe, còn T2 và T3 ngồi sau xe. C1 điều khiển xe đi đến ngã ba bản N, xã P huyện M thì dừng xe và đưa cho T2 100.000đ đi mua xăng xe, T2 đi mua hết 50.000đ tiền xăng xe, rồi quay lại trả cho C1 50.000đ tiền thừa. Sau đó C1 tiếp tục điều khiển xe chở theo T2 và T3 đi về hướng xã T, huyện M. Khi đi đến bản P, xã N, huyện M, C mỏi tay nên dừng xe để cho Hà Văn T3 điều khiển xe, còn C1 và T2 ngồi sau. Khi đến bản K, xã N, huyện M thì C1 bảo T3 dừng xe để C1 xuống đi có chút việc riêng, còn T3 và T2 cứ đi chơi, khi nào xong việc sẽ gọi điện thoại cho T2 đến đón cùng về. Sau đó, T3 và T2 tiếp tục điều khiển xe đi chơi, còn C1 đi bộ theo đường mòn đến bản Khằm N – Lào để tìm mua ma túy sử dụng. Khi C1 đến khu vực rừng thuộc bản K - Lào thì gặp và hỏi mua ma túy với một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết là công dân Nước CHDCND Lào. Khi người này đồng ý, thì

C1 đã lấy từ trong người ra 200.000₫ đưa cho ông ta và nói 100.000đ mua heroine, còn lại mua hồng phiến. Nhận được tiền C1 đưa, người đàn ông dân tộc M bảo C1 đợi ở đó để ông đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông dân tộc Mông quay lại đưa cho Chấn 01 (một) gói nilon màu hồng và nói bên trong là ma túy. Nhận được ma túy, C1 không mở ra xem mà cầm trong lòng bàn tay trái, sau đó C1 xin thêm một ít ma túy của người đàn ông này và sử dụng hết số ma túy xin được ngay tại đó, rồi theo đường cũ quay về. Khi đến khu vực cầu G thuộc bản K, xã N, huyện M, tỉnh Thanh Hóa thì C1 gọi điện thoại cho T2 đến để cùng về. Chấn chờ một lúc sau, thì thấy T3 điều khiển xe chở theo Thiếu đến và dừng lại để C1 ngồi sau xe. Khi đến khu vực chợ T5 địa giới hành chính bản Chim, xã N, huyện M thì T3 dừng xe lại để C1 điều khiển xe. Đến 19 giờ 30 phút, cùng ngày, khi C1, T2 và T3 đi đến Km 76+200, Quốc lộ A, thuộc địa giới hành chính bản Chim, xã N thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng P2, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T phối hợp cùng Công an xã N, huyện M và Đồn biên phòng T6, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T chức năng ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Thấy vậy, Vi Văn C1 liền thả gói ma tuý đang cầm trong lòng bàn tay trái xuống đường, nhưng đã bị lực lượng chức năng phát hiện và yêu cầu Vi Văn C1 nhặt lên để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện 01 (một) gói được gói bằng 03 (ba) lớp nilon màu hồng, bên trong có 02 (hai) gói nilon màu hồng, trong đó 01 (một) gói chứa 07 (bảy) viên nén tròn dẹt màu hồng ký hiệu WY và 01 (một) gói chứa chất bột màu trắng, Vi Văn C1 khai đây là hồng phiến và heroine của Vi Văn C1 mua về để sử dụng trái phép cho bản thân. Sau đó lực lượng chức năng đã tuyên bố bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với Vi Văn C1.

Tại Kết luận giám định số: 172/KL-KTHS ngày 14/01/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T, kết luận:

  • - 07 viên nén hình tròn dẹt màu hồng ký hiệu WY của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,720g (Không phẩy bảy hai không gam), loại: Methamphetamine.
  • - Cục chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,718g (không phẩy bảy một tám gam), loại: Heroine (H)

Tổng khối lượng 02 chất ma túy Vi Văn C1 tàng trữ là 1,438g (một phẩy bốn ba tám gam).

Bản cáo trạng số: 35/CT-VKS-ML ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vi Văn T2 trình bày: Vi Văn C1 rủ anh đi đến xã T để chơi, việc Vi Văn C1 mua ma túy và tàng trữ ma túy thì anh không biết. Khi bị bắt anh có bị thu giữ 01 chiếc điện thoại, nay cơ quan chức năng đã trả lại cho anh, nên anh không có ý kiến gì thêm.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vi Văn C2 trình bày: Anh cho Vi Văn T2 mượn xe máy để đi chơi, chiếc xe máy Vi Văn T2 dùng để đi cùng với Vi Văn C1, Hà Văn T3 là xe do anh là chủ sở hữu. Chiếc xe này do anh mua bằng tiền của cá nhân anh, việc Vi Văn T2 dùng xe đi chơi anh không hề biết. Nay, Anh có nguyện vọng xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình, không ai xúi giục hay ép buộc nhận tội thay người khác. Bị cáo khai, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy trái phép là vi phạm pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do không kìm chế được bản thân nên đã cố tình phạm tội. Bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không khai báo thêm tình tiết mới.

Tranh luận và luận tội:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tranh luận và luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo khẳng định không ai xúi giục hay ép buộc nhận tội thay người khác nên Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Tuyên: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS;

Hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 26 đến 28 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp, gia đình là hộ nghèo, nên không có tính khả thi.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động; trả lại 01 xe máy cho ông Vi Văn C2 theo quy định của pháp luật.

Miễn án phí HSST cho bị cáo, vì bị cáo thuộc diện hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn.

Ý kiến của người bào chữa: Người bào chữa đồng tình với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát về tội danh, điều luật và khung hình

phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tạo điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình là hộ nghèo; nhận thức còn hạn chế, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo Vi Văn C1 mức án thấp nhất có thể để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo đồng tình với lời bào chữa của người bào chữa, bị cáo không bổ sung thêm gì; bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vi Văn T2 và Vi Văn C2 vắng mặt không có lý do, khi đã được triệu tập hợp lệ và đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, thời gian, không gian, địa điểm và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, tại tại Km 76+200, Quốc lộ A, thuộc địa giới hành chính bản Chim, xã N, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác Đồn biên phòng P2, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T phối hợp cùng Công an xã N, huyện M và Đồn biên phòng T6, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T bắt quả tang Vi Văn C1 đang tàng trữ trái

phép chất ma túy, gồm 07 viên nén, qua giám định thì có tổng khối lượng 0,720g, loại: Methamphetamine và các chất bột màu trắng qua giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,718g, loại: Heroine. Các chất ma túy này đều được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Để đảm bảo đúng quy định của pháp luật hình sự, thì hai chất ma túy thu giữ của Vi Văn C1 được phép cộng dồn lại và có tổng khối lượng 02 chất ma túy là 1,438g (Một phẩy bốn ba tám gam).

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Vi Văn C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, vì bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện và bị pháp luật nghiêm cấm mua bán, sử dụng, tàng trữ,... cũng như khi con người sử dụng thì sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào ma túy, ngoài ra ma túy còn hủy hoại thể chất, tinh thần, làm cho bao gia đình ly tán, tan gia, bại sản, vợ mất chồng, con mất cha, và ma túy cũng là tác nhân phát sinh các tội phạm khác, như như trộm cắp, cướp giật, giết người....Bị cáo biết những tác hại nguy hiểm của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về quản lý chất ma túy của nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thái độ ăn năn hối cải, nên HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 07/3/2023 bị cáo chấp hành xong quyết định như vậy cho thấy bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đới với bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa cũng như thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật.

[5]. Xét về hình phạt:

Hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ, hành vi của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, phòng ngừa, đồng thời để bị cáo cai nghiện chất ma túy; Thấy rằng đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với hành vi phạm tội, cũng như khối lượng chất ma túy thu giữ, đã đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy bị cáo làm nương rẫy, gia đình bị cáo là hộ nghèo. Nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Xét về vật chứng trong vụ án:

Đối với số ma túy thu giữ cảu của bị cáo còn lại sau giám định, đây là vật chứng vụ án, là chất nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA màu sơn, đỏ - đen biển kiểm soát 36K1-030.47 số máy: JC52E1123619, số khung: RLHJ5285DY026533, đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội, nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Vi Văn C2.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Remi thu giữ của Vi Văn C1, đây là không phỉa công cụ, phương tiện phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

[7]. Xét về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (T4) thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, nên HĐXX miễn án phí HSST cho bị cáo.

[8]. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo, người có quyền lợi nghãi vụ liên quan có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[9]. Các nhận định khác:

Đối với người đàn ông lạ mặt bán ma túy cho Vi Văn C1 và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C1 vào ngày 12/01/2024, C1 khai nhận việc mua bán, trao đổi và sử dụng ma túy diễn ra trên rừng thuộc địa phận bản Khằm Nàng - Lào quá trình mua bán trao đổi không ai chứng kiến; ngoài lời khai của C1 không có tài liệu nào chứng minh. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện M không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với Vi Văn T2 và Hà Văn T3 là hai người đi chơi cùng với Vi Văn C1 vào ngày 12/01/2024, Nhưng Hà Văn T3, Vi Văn T2 đều không biết Vi Văn C1 mua và

tàng trữ ma túy nên không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về tội danh: Tuyên, Vi Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Vi Văn C1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (12/01/2024).

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có ma túy còn lại sau giám định do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành sau giám định, mặt trước ghi vụ Vi Văn C1. Mặt sau phong bì được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L, Trương Văn D và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T.

Trả lại cho Vi Văn C1 01 chiếc điện thoại, nhãn hiệu Redmi, đã qua sử dụng, được đựng 01 (một) phong bì niêm phong do Công an huyện M phát hành bên trong có điện thoại di động hiệu Redmi của Vi Văn C1 mặt trước ghi điện thoại thu giữ của Vi Văn C1, mặt sau được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên, Trương Văn P1, Hà Văn C3, Vi Văn C1 và các hình dấu của Cơ quan Điều tra Công an huyện M làm giáp lai.

Trả lại cho ông Vi Văn C2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Bản X, xã Q, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA màu sơn, đỏ - đen biển kiểm soát 36K1-030.47 số máy: JC52E1123619, số khung: RLHJ5285DY026533, xe đã qua sử dụng.

Vật chứng trên đang lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 46/2024/TV-CCTHADS ngày 13/6/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

Về án phí: Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Miễn án phí HSST cho bị cáo Vi Văn C1

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự căn cứ Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Phòng KTNV, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKS nhân dân H. Mường Lát;
  • - Phòng 7 - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an H. Mường Lát;
  • - Nhà tạm giữ - Công an H. Mường Lát;
  • - Cơ quan THAHS - CA huyện Mường Lát;
  • - Bộ phận hồ sơ Công an H. Mường Lát;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Lát;
  • - UBND xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Hồ sơ Thi hành án Hình sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án điểm và là án rut kinh nghiệm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger