Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KAN


Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 29 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Doãn Thị Hường và bà Vi Thị Ngọc Ánh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Dương Xuân Hổ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 22/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/HSST-QĐ ngày 09/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/HSST-QĐ ngày 07/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/HSST-QĐ ngày 05/7/2024 đối với bị cáo:

VŨ NGỌC D (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 17/4/1994 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc S, sinh năm 1967 và bà Nông Thị Mai S1, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án - 03 (ba):

  • + Bản án số 26/2017/HSST ngày 04/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xóa án tích.
  • + Bản án số 04/HS-ST ngày 15/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, chưa được xóa án tích.
  • + Bản án số 40/HS-ST ngày 28/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” (Hành vi phạm tội xảy ra từ ngày 21/9/2017). Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại bản án số 04/HS-ST ngày 15/12/2020 buộc bị cáo phải chấp hành

hình phạt chung là 19 tháng tù giam. Ngày 28/4/2022 Vũ Ngọc D chấp hành án xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: 01 (một) - Ngày 02/8/2021, Vũ Ngọc D bị Ủy ban nhân dân huyện B xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” và “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Đến nay D chưa chấp hành nộp phạt.

Về nhân thân: Ngày 18/12/2023, Vũ Ngọc D bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác.." theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Đến nay D chưa chấp hành nộp phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/10/2023 đến ngày 24/10/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân D1 - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B - Có mặt.
  • * Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Nông Văn T, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.
  2. Đồng Thị M, sinh năm 2002; Trú tại: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.
  3. Bùi Minh T1, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.
  4. Lường Văn K, sinh năm 1987; Trú tại: Tiểu khu A, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.
  5. Lê Công Tuấn A, sinh năm 1997; Trú tại: Tiểu khu E, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.
  6. Nguyễn Thị Phương C, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn N xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ giữa năm 2022, Vũ Ngọc D sinh năm 1994, thường trú thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn tự mở cửa hàng lấy tên Đ tại Tiểu khu A, thị trấn C, huyện B để kinh doanh dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng, cho thuê tăng âm - loa đài, cho thuê xe điện, đồng thời cho một số người vay tiền với lãi suất cao, thời hạn trả tiền lãi 10 ngày một lần, nếu trả trước thời hạn thì tiền lãi cũng không thay đổi.

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 14/10/2023, Phòng C3 Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an huyện B tiến hành kiểm tra tại cửa hàng Đại Lợi 97 của Vũ Ngọc D phát hiện và tạm giữ một số đồ vật, tài liệu, tài sản có liên quan đến hoạt động cho vay tiền của Vũ Ngọc D. Tiến hành khám xét khẩn cấp phát hiện, tạm giữ nhiều đồ vật, tài liệu, tài sản có liên quan đến hoạt động cho vay tiền có tính lãi suất cao của D.

Qua điều tra đã xác định Vũ Ngọc D cho 03 (Ba) người vay tiền với lãi suất cao vượt mức quy định của pháp luật, cụ thể:

1. Ông Nông Văn T, sinh năm 1995, trú tại thôn N, xã K, huyện B.

Ngày 03/10/2023, Nông Văn T đến cửa hàng Đ1 97 cầm cố chiếc điện thoại Iphone 11 Promax vay của Vũ Ngọc D số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), thỏa thuận lãi suất là 300.000đ/5.000.000đ/10 ngày (tương đương với lãi suất 219% trên năm), D đưa tiền mặt. Đến ngày 04/10/2023, Đồng Thị M, sinh năm 2002, trú tại thôn N, xã K, huyện B (là vợ của T) đã thanh toán cả gốc và tiền lãi là 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng) cho D bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 0981819847 của Mây tại ngân hàng M1 đến số tài khoản 109868083198 của D tại ngân hàng V. Số tiền D thu lời bất chính là 272.603đ (Hai trăm bẩy mươi hai nghìn, sáu trăm linh ba đồng).

Ngày 04/10/2023, T mang xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 97B2-128.43 là tài sản của T đến cửa hàng Đ1 97 cầm cố với D vay số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), thỏa thuận lãi suất là 1.400.000đ/20.000.000đ/10 ngày (tương đương với lãi suất 255,5% trên năm), D đưa cho T số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Đến ngày 08/10/2023, T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 97B1-817.51 của Nông Văn T2, sinh năm 1999, trú tại thôn N, xã K, huyện B (là em trai ruột của T) để đi cầm cố vay tiền và được T2 đồng ý. Thiềm mang chiếc xe mô tô của T2 đến cửa hàng Đ1 97 gặp D để tiếp tục cầm cố vay được số tiền 15.000.000đ (Mười năm triệu đồng) và T cầm cố thêm chiếc điện thoại Iphone 11 Promax của T để vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), tổng số tiền T vay lần này là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), thỏa thuận lãi suất là 1.400.000đ/20.000.000đ/10 ngày (tương đương với lãi suất 255,5%), sau đó D chuyển khoản số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) từ số tài khoản 109868083198 của D tại ngân hàng V đến số tài khoản 0981819847 của Đồng Thị M (là vợ của T) tại ngân hàng M1. Ngày 11/10/2023 T và M đến cửa hàng Đ1 97 trả cho Vũ Ngọc D số tiền 42.800.000đ (Bốn mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng), trong đó tiền gốc của 02 (hai) lần vay là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) và tiền lãi là 2.800.000đ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền D thu lợi bất chính là 2.580.822đ (Hai triệu năm trăm tám mươi nghìn, tám trăm hai mươi hai đồng)

2. Ông Bùi Minh T1, sinh năm 1981, trú tại thôn N, xã T, huyện B.

Ngày 31/5/2023, ông T1 vay của Vũ Ngọc D số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), thỏa thuận lãi suất vay là 5.000đ/1.000.000đ/1 ngày (tương đương với lãi suất 182,5%), D chuyển khoản từ số tài khoản 109868083198 của D tại ngân hàng V đến số tài khoản 109002596902 của T1 tại ngân hàng V. Ngày 09/6/2023 T1 trả tiền lãi 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) bằng hình thức khuyển khoản từ số tài khoản 109002596902 của T1 tại ngân hàng V đến số tài khoản 084292679797 của D tại ngân hàng M1. Số tiền D thu lợi bất chính là 445.205 (Bốn trăm bốn mươi năm nghìn hai trăm linh năm đồng).

Ngày 13/6/2023, ông T1 tiếp tục vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), cộng dồn với tiền gốc vay lần trước tổng là 15.000.000đ (Mười năm triệu đồng) thỏa thuận lãi suất vay là 5.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương với lãi suất là 182.5%). D chuyển khoản từ số tài khoản 109868083198 của D tại ngân hàng V đến số tài khoản 109002596902 của T1 tại ngân hàng V, T1 đã trả tiền lãi 06 (sáu) lần bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 084292679797 của D tại ngân hàng M1, tổng số tiền lãi đã trả là 4.420.000đ (Bốn triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Số tiền thu lời bất chính là 3.716.438đ (Ba triệu bẩy trăm mười sáu nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng).

Ngày 13/9/2023 T1 vay thêm của Dương 5.000.000đ (Năm triệu đồng) tiền mặt, thỏa thuận lãi suất là 5.000.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương với lãi suất là 182,5% trên năm). Ngày 02/10/2023 T1 trả tiền lãi 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 109002596902 của T1 tại ngân hàng V đến số tài khoản 084292679797 của D tại ngân hàng M1; Ngày 09/10/2023 T1 chuyển khoản số tiền 21.700.000đ (Hai mươi mốt triệu bẩy trăm nghìn đồng) từ số tài khoản 109002596902 của T1 tại ngân hàng V đến số tài khoản 084292679797 của D tại ngân hàng M1. Trong đó trả toàn bộ tiền vay gốc là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) và tiền lãi là 1.700.000đ (Một triệu bẩy trăm nghìn đồng). Số tiền D thu lời bất chính là 1.780.822 (Một triệu bẩy trăm tám mươi nghìn tám trăm hai mươi hai đồng).

3. Ông Lường Văn K, sinh năm 1987, trú tại tiểu khu A, thị trấn C, huyện B:

Ngày 02/12/2022, ông K vay của D số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), thỏa thuận lãi suất vay là 10.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương với lãi suất là 365% trên năm), D chuyển khoản từ số tài khoản 109868083198 của D tại ngân hàng V, đến số tài khoản 108002581809 của K tại ngân hàng V. K đã trả tiền lãi 04 (bốn) lần bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 108002581809 của K tại ngân hàng V đến số tài khoản 084292679797 của D tại ngân hàng M1, tổng số tiền lãi là 1.650.000đ (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền D thu lợi bất chính là 1.559.589đ (Một triệu năm trăm năm mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng).

Ngày 04/01/2023, K vay thêm của D số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), cộng dồn với tiền gốc vay lần trước, tổng số tiền vay là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng), thỏa thuận lãi suất vay 10.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương với lãi suất là 365% trên năm), D chuyển khoản từ tài số tài khoản 109868083198 của D tại ngân hàng V, đến số tài khoản 108002581809 của K tại ngân hàng V. K đã trả tiền lãi 02 (Hai) lần bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 108002581809 của K tại ngân hàng V đến số tài khoản 084292679797 của D tại ngân hàng M1, với số tiền 2.700.000đ (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng), số tiền thu lời bất chính là 2.552.329 (Hai triệu năm trăm năm mươi hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng). Từ ngày 24/02/2023 không phát sinh tiền lãi, Lường Văn K đã trả xong tiền gốc.

Tổng số tiền gốc Vũ Ngọc D cho 03 (ba) người vay là 72.000.000đ (Bảy mươi hai triệu đồng), với mức lãi suất dao động từ 182,5% (Một trăm tám mươi hai phẩy năm phần trăm) trên năm đến 365% (Ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên năm. Tổng số tiền lãi D đã thu của người vay là 14.370.000đ (Mười bốn triệu ba trăm bẩy mươi nghìn đồng), trong đó số tiền Vũ Ngọc D thu lợi bất chính là 12.907.808đ (Mười hai triệu chín trăm linh bẩy nghìn tám trăm linh tám đồng). Nông Văn T, Bùi Minh T1, Lường Văn K đã trả xong số tiền nợ gốc và tiền lãi cho Vũ Ngọc D.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Vũ Ngọc D thừa nhận hành vi cho Nông Văn T, Bùi Minh T1, Lường Văn K vay tiền với lãi suất cao, phù hợp với vật chứng, tài liệu thu giữ, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Tại Bản cáo trạng số 15/CT-VKS-P1, ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Vũ Ngọc D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân dự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Điều 201 của Bộ luật Hình sự có nội dung:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000đ đến dưới 100.000.000đ hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giảm giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lời bất chính 100.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Ngọc D như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Phạt tiền là hình phạt chính số tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Áp dụng hình phạt bổ sung Cấm được hành nghề kinh doanh dịch vụ cầm đồ từ 02 đến 03 năm.

Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền gốc dùng để cho vay là 72.000.000 đồng và khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% là 1.462.192 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo Vũ Ngọc D trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Văn T 2.853.425 đồng, Bùi Minh T1 5.942.465 đồng, Lường Văn K 4.111.918 đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.300.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Trả lại cho ông Lê Công Tuấn A 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Phương C số tiền 9.960.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) thanh kim loại dạng kiếm; 59 (năm mươi chín) tờ giấy trên giấy in dòng chữ “Cho vay lãi suất thấp, ĐT 0855.097.xxx”; 10 (mười) tờ mẫu giấy biên nhận vay tiền mặt chưa có nội dung.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Ngọc D trình bày: Đồng tình với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có căn cứ để khẳng định:

Từ ngày 02/12/2022 đến ngày 08/10/2023 Vũ Ngọc D đã cho 03 (ba) người gồm Nông Văn T, Bùi Minh T1, Lường Văn K vay tiền với mức lãi suất từ 182,5% đến 365% trên năm, hình thức vay là nhận tiền mặt hoặc chuyển khoản qua ngân hàng. Tổng số tiền gốc cho vay là 72.000.000đ (Bảy mươi hai triệu đồng), tổng số tiền lãi đã thu là 14.370.000đ (Mười bốn triệu, ba trăm bẩy mươi nghìn đồng), số tiền lãi thu lời bất chính là 12.907.808đ (Mười hai triệu chín trăm linh bảy nghìn tám trăm linh tám đồng). Tổng số tiền thu lợi bất chính dưới 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), nhưng Vũ Ngọc D đã bị kết án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” chưa được xóa án tích lại tiếp tục vi phạm. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Ngoài hình phạt chính, bị cáo Vũ Ngọc D còn phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm bị cáo mới đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với bị cáo và đúng quy định của pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo có 03 (ba) tiền án, 01 (một) tiền sự, đã từng bị xét xử, bị xử phạt vi phạm hành chính chưa được xóa án tích, chưa chấp hành nộp phạt lại tiếp tục vi phạm, do vậy xác định bị cáo Vũ Ngọc D có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Ngọc D phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Vũ Ngọc D trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, có ông ngoại là Nông Ngọc C1 được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm, tính chất hành vi, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo là vì vụ lợi. HĐXX thấy cần thiết áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ thường phát sinh tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo kinh doanh dịch vụ cầm đồ trong thời hạn nhất định.

[6] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền gốc của khoản vay là 72.000.000đ (Bảy mươi hai triệu đồng), xác định đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước. Do đó, khoản tiền gốc đã được người liên quan trả cho bị cáo, thì bị cáo phải có trách nhiệm nộp vào ngân sách, cụ thể:

Ông Nông Văn T đã trả 45.000.000 đồng; ông Bùi Minh T1 đã trả: 20.000.000 đồng; ông Lường Văn K đã trả 7.000.000 đồng; Xét số tiền trên là phương tiện phạm tội nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% theo quy định bị cáo Vũ Ngọc D đã nhận là 1.462.192 đồng là tiền phát sinh từ tội phạm nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo D theo điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy bị cáo Vũ Ngọc D đã chiếm hưởng bất chính của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền là 12.907.808đ (Mười hai triệu, chín trăm linh bẩy nghìn tám trăm linh tám đồng), vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền nói trên.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, điện thoại cũ, đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc điện thoại bị cáo Dương mượn của ông Lê Công Tuấn A, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Công Tuấn A.
  • + Đối với số tiền 15.260.000đ (Mười năm triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định gồm có:
    • - Số tiền 9.960.000đ (Chín triệu, chín trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền của bà Nguyễn Thị Phương C, không liên quan đến hành vi vi phạm của bị cáo, cần trả lại cho bà Nguyễn Thị Phương C.
    • - Số tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng) là tiền mà bị cáo không có liên quan đến hành vi phạm tội, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
  • Tịch thu tiêu hủy:
    • + 02 (hai) thanh kim loại dạng kiếm, trong đó một thanh kim loại dài 66,5cm, một đầu nhọn rộng 04cm, một đầu được quấn băng dính đen dài 14cm; một thanh kim loại dài 86,5cm, một đầu nhọn rộng 04cm, một đầu được tra cán gỗ dài 17,5cm.
    • + 59 (năm mươi chín) tờ giấy trên giấy in dòng chữ “Cho vay lãi suất thấp, ĐT 0855.097.xxx".
    • + 10 (mười) tờ mẫu giấy biên nhận vay tiền mặt chưa có nội dung.

Quá trình điều tra xác định các đồ vật tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý như sau:

  • + Trả cho Nguyễn Thị Phương C: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, biển kiểm soát 97B2-091.91, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lộc Sành Lấy; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, biển kiểm soát 97B1-958.75, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 068630; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô, xe gắn máy tên đăng ký Hoàng Văn B.
  • + Trả lại cho Vũ Ngọc D:
    • 01 (một) biển số 97B1-788.61; 01 (một) tờ giấy A4 trên giấy có ghi nhiều chữ và số;
    • 01 (một) hóa đơn giá trị gia tăng của Trung tâm K, mặt sau có ghi nhiều chữ và số;
    • 02 (hai) tờ giấy bảng dự thưởng XS lô tô của Công ty X, mặt sau có nhiều chữ và số;
    • 01 (một) giấy bán, cho, tặng xe máy đề ngày 15/3/2023, đề tên người bán Dương Xuân H, sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, người mua Vũ Ngọc D có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã K;
    • 01 (một) thẻ ATM của ngân hàng V1 số 9704 1502 6183 9255 mang tên VU NGỌC DUONG;
    • 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Ngọc D, cấp ngày 06/7/2022;
    • 02 (hai) mảnh giấy trong đó một mảnh giấy màu vàng mặt trước và mặt sau ghi nhiều chữ và số, một mảnh giấy màu trắng kẻ ngang ghi nhiều chữ và số; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 88K2-3366, xe cũ đã qua sử dụng;
    • 01 (một) phong bì của Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết tỉnh X, mặt trước phong bì có dòng chữ viết bằng bút bi bằng tay “Triệu Văn C2”.
    • 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh mang tên Vũ Ngọc D số 13B8001786;
    • 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký thuế của hộ kinh doanh Vũ Ngọc D;
    • 01 (một) thông báo về cơ quan thuế quản lý; 01 (một) quyển sổ bìa màu xanh, bên trong có ghi nhiều chữ và số;
    • 01 (một) giấy mời của BQL chùa P cho Vũ Ngọc D đề ngày 08/5/2023, mặt sau giấy mời có nhiều chữ và số viết tay;
    • 03 (ba) chùm chìa khóa các loại.
  • + Trả cho Bế Văn Đ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ, biển kiểm soát 97K1-008.81, xe cũ đã qua sử dụng.
  • + Trả cho Nguyễn Thị H1: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 97K1-001.12, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hà Văn H2.
  • + Trả cho Hà Thị B1: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 97B1-659.65, xe cũ đã qua sử dụng
  • + Trả cho Phan Văn T3: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 97B2-012.03, xe cũ đã qua sử dụng.
  • + Trả cho Nguyễn Hoàng D2: 01 (một) xe mô tô YAMAHA Sirius 97B1-983.84.
  • + Trả cho Đoàn Thị D3: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 97B1-787.51.
  • + Trả cho Triệu Văn C2: 01 (một) giấy bán xe đề tên người bán là Triệu Văn C2, đề ngày 07/10/2023.
  • + Trả cho Đặng Dương L: 01 (một) biển số 97B2-113.81.
  • + Trả cho Đồng Thị M: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.
  • + Trả cho Hoàng Văn T4: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Victoria, biển kiểm soát 97AA-070.78. xe cũ đã qua sử dụng.

Đồ vật, tài liệu không liên quan đến vụ án, chuyển đến phòng C3 Công an tỉnh B để xử theo pháp luật hành chính gồm:

  • + 01 (một) điện thoại di động của Đặng Dương Long nhãn h iPhone 6, màu đen, đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) căn cước công dân mang tên Triệu Khải H3 số 0062070016594;
  • + 01 (một) căn cước công dân mang tên Lý Tiến T5 số [...];
  • + 01 (một) căn cước công dân mang tên Dương Hoàng N số [...];
  • + 01 (một) căn cước công dân mang tên Mã Đức H4 số [...];
  • + 01 (một) căn cước công dân mang tên Trương Đức K1 số [...]; 01 (một) biển số xe mô tô 97B1-787.28;
  • + 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 97F4-6648, xe cũ đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) quyển giáo án dòng kẻ ngang 200 trang của Công ty G, bên trong có nhiều trang bị cắt, có 04 (bốn) tờ giấy có ghi nhiều chữ và số;
  • + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số đăng ký 97AA-047.21 mang tên Mã Văn H5.

Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Ngọc D là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã Y, huyện B là nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bị cáo.

[9] Trong vụ án còn có:

Đặng Dương L, sinh năm 2000, trú tại thôn Bản Váng, xã Đ, huyện B được D thuê trông xe điện tại Tiểu khu A, thị trấn C, huyện B. Qua điều tra đã xác định L không tham gia vào hoạt động cho vay lãi nặng của D và không được hưởng lợi từ hoạt động trên của D. L tự cho một số người vay vượt quá mức quy định của pháp luật nhưng số tiền thu lời bất chính dưới 30.000.000 đồng, đồng thời L chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do đó, Cơ quan điều tra đã chuyển các tài liệu liên quan đến việc cho vay của L đến Phòng C3 Công an tỉnh để xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.

Quá trình điều tra, ông Dương Văn H6, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã K, huyện B; Triệu Văn C2, sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã T, huyện B; Lường Văn T6, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã T, huyện B khai được vay tiền của Vũ Ngọc D và phải trả lãi cao nhưng không có tài liệu khác chứng minh, Vũ Ngọc D không thừa nhận nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

    Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc D 80.000.000đ (T7 mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

    Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Vũ Ngọc D kinh doanh dịch vụ cầm đồ trong thời hạn 02 (Hai) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
    1. Buộc bị cáo Vũ Ngọc D phải nộp số tiền gốc của các khoản vay là 72.000.000đ (Bảy mươi hai triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
    2. Buộc bị cáo Vũ Ngọc D nộp số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo mức quy định là 1.462.192 đồng (Một triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn một trăm chín mươi hai đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
    3. Buộc bị cáo Vũ Ngọc D trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ thể:
      • + Trả lại cho ông Nông Văn T 2.853.425đ (Hai triệu tám trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi năm đồng).
      • + Trả lại cho ông Bùi Minh T1 5.942.465đ (Năm triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi năm đồng).
      • + Trả lại cho ông Lường Văn K 4.111.918đ (Bốn triệu một trăm mười một nghìn chín trăm mười tám đồng).

      Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Vũ Ngọc D.
    2. Trả lại cho ông Lê Công Tuấn A 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen.
    3. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Phương C số tiền 9.960.000đ (Chín triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).
    4. Tịch thu tiêu hủy:
      • + 02 (hai) thanh kim loại dạng kiếm, trong đó một thanh kim loại dài 66,5cm, một đầu nhọn rộng 04cm, một đầu được quấn băng dính đen dài 14cm; một thanh kim loại dài 86,5cm, một đầu nhọn rộng 04cm, một đầu được tra cán gỗ dài 17,5cm.
      • + 59 (năm mươi chín) tờ giấy trên giấy in dòng chữ “Cho vay lãi suất thấp, ĐT 0855.097.xxx".
      • + 10 (mười) tờ mẫu giấy biên nhận vay tiền mặt chưa có nội dung.

      (Tình trạng, số lượng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).

  4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Vũ Ngọc D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Phòng Hình sự CA tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Ngọc D - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger