|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 28-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Thưởng
Bà Trần Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thoại Tấn P, sinh năm 1993. Nơi sinh: Tiền Giang.
CCCD số: [...], cấp ngày 10/5/2021. Nơi cấp: Cục Q về TTXH.
Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 6/12.
Con ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị Bích L.
Bị cáo có vợ đã ly hôn. Có 01 người con sinh năm 2014.
Tiền án:00.
Tiền sự: 01, Ngày 13/02/2023, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đã chấp hành xong ngày 17/7/2023.
Đặc điểm nhân thân:
- Ngày 28/8/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 (một) năm tù theo Bản án số 50/2024/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 05/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù theo Bản án số 27/2024/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản".
- Hiện đang bị Cơ quản cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định khởi tố bị can số 153/QĐ-ĐCSHS ngày 02/5/2024.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C trong vụ án khác. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Phạm Ngọc L1, sinh năm 1997. Nơi sinh: Kiên Giang.
CCCD số: [...], cấp ngày 24/8/2023. Nơi cấp Cục QLHC về TTXH.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 9/12.
Con ông Phạm Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc G.
Bị cáo chưa có chồng con, hiện sống chung như vợ chồng bị cáo P. Có 01 người con tên Phạm Ngọc H1, sinh năm 2018.
Tiền án:00. Tiền sự: 00.
Đặc điểm nhân thân:
- Ngày 05/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 (chín) tháng tù theo Bản án số 27/2024/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Hiện đang bị Cơ quản cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định khởi tố bị can số 154/QĐ-ĐCSHS ngày 02/5/2024.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C trong vụ án khác. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Nguyễn Đức Trọng N, sinh năm: 2001, tại tỉnh Tiền Giang.
Tên gọi khác: Nhân Em.
CCCD số: [...], cấp ngày: 11/5/2024. Nơi cấp: Cục Q về TTXH.
Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 6/12.
Con ông Phạm Trung N1 và bà Nguyễn Thị Mỹ B.
Bị cáo chưa có vợ con, là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án:00.
Tiền sự: 00.
Đặc điểm nhân thân:
Bị cáo N hiện đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quyết định khởi tố bị can số 40/QĐ-ĐTTH ngày 04/8/2024.
Bị cáo N bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 351/QĐ-QLNN ngày 12/5/2024.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Tiền Giang từ ngày 12/6/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2001. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Anh Văn Thanh T1, sinh năm 1976. (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp E, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1961. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp E, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Phạm Thị C, sinh năm 1967. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1 sống chung với nhau như vợ chồng. Ngày 26/02/2024, Phạm Ngọc L1 điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 17B2 - 036.76 chở Huỳnh Thoại Tấn P đi từ nhà cha mẹ ruột của P ở xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang về phòng trọ ở xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Khi đang đi trên đường K thuộc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang thì P phát hiện xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 023.75 của anh Nguyễn Văn D đang dựng cặp lề lộ bên phải. Lúc này, P nảy sinh ý định trộm cắp xe trên nên kêu L1 dừng xe lại để P xuống lấy trộm, L1 đồng ý. P dùng đoản mở khoá xe còn L1 đứng quan sát xung quanh để cảnh giới. Sau khi lấy trộm được xe, P điều khiển xe vừa trộm được, L1 điều khiển xe 17B2 - 036.76 cùng đến khách sạn M3 thuộc xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để thuê phòng và giấu chiếc xe vừa trộm được tại đây. Pha ở lại khách sạn ngủ để giữ xe và liên hệ tìm người bán xe, L1 điều khiển xe 17B2 - 036.76 về phòng trọ.
Giữa P và anh Nguyễn Văn M có quen biết từ trước do có thời gian cùng làm công nhân, qua sự giới thiệu của anh M, sáng ngày 27/02/2024, P điện thoại L1 đến khách sạn để cùng P đi bán xe 63B8 - 023.75. Pha điều khiển xe 63B8 - 023.75, L1 điều khiển xe 17B2 - 036.76 cùng đến bán xe 63B8 - 023.75 cho ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1961, nơi cư trú Ấp E, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp với số tiền 4.500.000 đồng. Sau khi bán được xe Pha chia cho M 1.000.000 đồng tiền chênh lệch do lúc đầu P kêu bán xe chỉ với giá 3.500.000 đồng. Đối với số tiền 3.500.000 đồng thì P và L1 cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra, bị cáo P khai nhận ngoài vụ trộm trên còn cùng bị cáo Nguyễn Đức Trọng N trộm cắp xe trên địa bàn xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, cụ thể:
Ngày 05/01/2024, P cùng với người bạn tên M1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đến nhà của Nguyễn Văn C1, sinh năm 1990, trú tại ấp L, xã L, C, Tiền Giang chơi. Tại đây, P gặp thêm N và H (không rõ họ tên, địa chỉ). Ban đầu N rủ P đến địa bàn thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để tìm tài sản trộm nhưng P không đồng ý đi mà rủ N đến địa bàn huyện T trộm xe thì được N đồng ý. N điều khiển xe Wave chở theo P ngồi sau, xe không rõ biển số vì là xe của N mua lại xe cũ của người không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, không có làm giấy tờ mua bán. M1 và H đi bằng xe mô tô không rõ biển số cùng chạy vào địa bàn xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Khi cả nhóm đi ngang một căn chòi thì phát hiện không có người trông coi, nên N lấy máy cắt cỏ đã cũ và đưa cho M1 và kêu M1 và H đi về trước. Pha và N tiếp tục điều khiển xe chạy quanh các tuyến đường thuộc xã H để tìm tài sản lấy trộm. Khi P điều khiển xe chở N đến đoạn đường thuộc ấp H, xã H, huyện T, Tiền Giang thì cả 02 cùng phát hiện xe mô tô 02 bánh 63K2-5037 của anh Văn Thanh T1 đang dựng trong chòi, không người trông coi nên N kêu P dừng xe lại để N xuống lấy trộm, P đồng ý. N đi đến thì phát hiện trên xe có chìa khóa móc sẵn nên N lấy xe. P điều khiển xe Wave, N điều khiển xe 63K2-5037 cùng chạy về nhà của anh C1.
P nói với N là đã có người mua xe này rồi nên P kêu N để xe này lại cho P. Cả 02 thống nhất bán xe này với giá 2.000.000 đồng nên P chuyển khoản vào tài khoản của M2 (Bạn gái N và hiện không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) 1.000.000 đồng. Pha để xe lại tại nhà anh C1 và đi về. Sáng ngày 06/01/2024, P đến lấy xe thì phát hiện xe 63K2-5037 không còn và bị ai lấy P, N đều không biết.
Quá trình điều tra, P còn khai nhận cùng L1 và N thực hiện 02 vụ trộm xe mô tô khác trên địa bàn thị trấn M và xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Cơ quan điều tra ra thông báo truy tìm bị hại trong các vụ trộm máy cắt cỏ và 02 xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có kết quả.
Tại Kết luận định giá tài sản số 505/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T xác định giá trị còn lại của xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 023.75 là 5.625.000 đồng và giá trị còn lại của xe F - 5037 là 2.475.000 đồng.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký và xe mô tô 02 bánh biển số 63B8-023.75, nhãn hiệu Honda, loại xe WaveS, màu đen-bạc; số máy: C52E-4102606; số khung: 5216CY087570, đã qua sử dụng.
- Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng do anh Nguyễn Văn M tự nguyện giao nộp. Cơ quan cảnh sát điều tra huyện T đã chuyển số tiền này vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang mở tại Kho bạc Nhà nước huyện T theo Ủy nhiệm chi ngày 24/9/2024.
- Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 17B2 - 036.76, nhãn hiệu HONDA, loại AIRBLADE mà bị cáo P và bị cáo L1 sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qua điều tra, xác định xe mô tô này do bị cáo P mua xe cũ không có giấy tờ. Tại Bản án số 50/2024/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước do là phương tiện phạm tội trong vụ án xảy ra ngày 18/3/2024 trên địa bàn huyện C.
- Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63K2 - 5037. Theo lời khai của P và N sau khi lấy trộm xe về để lại tại nhà anh C1 đến ngày hôm sau P trở lại lấy thì không còn xe và không biết xe ai đã lấy. Cơ quan điều tra thông báo truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Đối với xe mô tô 02 bánh hiệu Wave, không rõ biển số mà bị cáo N và bị cáo P sử dụng làm phương tiện phạm tội. Sau khi thực hiện xong vụ trộm xe mô tô 02 bánh biển số 63K2 – 5037, bị cáo N đã đem bán xe này cho người không rõ họ tên địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
- Đối với 01 thanh kim loại, màu trắng dài khoảng 20 cm, một đầu dẹp, một đầu hình lục giác mà bị cáo P sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội. Theo khai nhận của bị cáo P sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị can đã vứt bỏ không nhớ địa điểm cụ thể nên không thu hồi được.
Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSTP ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Phước để xét xử đối với các bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P, Phạm Ngọc L1 và Nguyễn Đức Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo P, L1, N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Do đó có cơ sở khẳng định các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Phạm Ngọc L1 và Nguyễn Đức Trọng N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cả hai bị cáo L1 và N khong ốc tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị can Huỳnh Thoại Tấn P được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P từ 12 (mười hai) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L1 từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 Nhân từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù..
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.
Các bị cáo thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.
Người bị hại anh Văn Thanh T1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phat jcho các bị cáo để các bị cáo sớm trở lại cộng đồng.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn hối cãi cho việc làm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo., xin lỗi bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của pháp luật.
[2]. Về sự vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên tòa: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh D, anh M, ông N2, bà C vắng mặt. Quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của những người này, bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, việc vắng những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Về tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P, Phạm Ngọc L1 và Nguyễn Đức Trọng N đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo, những người tham gia tố tụng là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 05/01/2024 đến ngày 26/02/2024, tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Trong đó, vào ngày 26/02/2024, bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P cùng bị cáo Phạm Ngọc L1 thực hiện hành vi trộm mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 023.75 của anh Nguyễn Văn D trị giá 5.625.000 đồng đem bán thu lợi bất chính 3.500.000 đồng và vào ngày 05/01/2024, bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P đã cùng với bị cáo Nguyễn Đức Trọng N thực hiện hành vi trộm xe mô tô 02 bánh 63K2-5037 của anh Văn Thanh T1 trị giá 2.475.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo P đã trộm cắp là 8.100.000 đồng, bị cáo L1 trộm cắp tài sản có giá trị là 5.625.000 đồng và bị cáo N là 2.475.000 đồng.
Như vậy, các bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P, Phạm Ngọc L1 và Nguyễn Đức Trọng N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng số 21/CT-VKSTP ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, chây lười lao động, ý thức xem thường pháp luật, các bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, ngoài ra bị cáo N còn là người nghiện ma túy tại địa phương. Các bị cáo đã lợi dụng điều kiện vắng vẻ, ít người qua lại, thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi các bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt thật thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dục giáo dục các bị cáo, cải tạo bản thân các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, biết tôn trọng tài sản hợp pháp của người khác nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đảm bảo an toàn trật tự xã hội nói chung.
[4]. Xét vai trò đồng phạm trong vụ án; Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:
[4.1]. Xét vai trò đồng phạm trong vụ án: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ giữa các bị cáo. Trong đó, vai trò của các bị cáo là ngang nhau, động cơ, ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác là như nhau, cùng trực tiếp thực hiện tội phạm và có chuẩn bị các công cụ để thực hiện tội phạm và trực tiếp tìm nơi tiêu thụ tài sản do trộm cắp được mà có.
[4.2]. Về tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc L1 và bị cáo Nguyễn Đức Trọng N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tại phiên tòa tòa bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo L1 và bị cáo N không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo N và bị cáo L1 thừa nhận mỗi bị cáo có cùng bị cáo P thực hiện thêm vụ trộm cắp xe máy khác trên địa bàn huyện T nhưng do cơ quan điều tra chưa tìm được bị hại nên chưa xử lý. Đánh giá về đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.
Đối với bị cáo P, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo và hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo P thực hiện hai vụ trộm, một vụ cùng bị cáo L1 và một vụ cùng bị cáo N nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bản thân bị cáo P cũng có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa, cùng các bị cáo L1, N thực hiện thêm hai vụ trộm cắp xe máy khác trên địa bàn huyện T nhưng do chưa tìm được bị hại nên chưa xử lý, Hội đồng xét xử có đánh giá, xem xét khi lượng hình.
[4.3]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5]. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
[5.1]. Đối với anh Nguyễn Văn M có hành vi giới thiệu để bị cáo P bán chiếc xe do phạm tội mà có và hưởng số tiền 1.000.000 đồng từ việc bán xe trong vụ cắp tài sản ngày 26/02/2024. Tuy nhiên, anh M không biết xe này do bị cáo P trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý M về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội là có căn cứ.
[5.2]. Đối với ông Nguyễn Văn N2 có hành vi mua xe mô tô biển số 63B8 - 023.75 trong vụ trộm ngày 26/02/2024. Tuy nhiên, khi mua xe, ông N2 không biết xe này do bị cáo P phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý ông N2 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.
[5.3]. Đối với anh Nguyễn Văn C1 không biết các bị cáo P và N đem xe mô tô 02 bánh 63K2-5037 mà các bị cáo trộm được về nhà của C1 để cất giấu nên không có cơ sở để xử lý hình sự C1 về tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.
[5.4]. Đối với người tên M2 mà bị cáo N khai là người yêu của bị cáo, khi trộm được xe mô tô biển số 63K2-5037 của anh Văn Thanh T1, bị cáo N và bị cáo P thống nhất giá xe là 2.000.000 đồng và bị cáo P đã chuyển khoản 1.000.000 đồng vào số tài khoản của M2. Sau đó N đã rút số tiền này và tiêu xài các nhân hết. Chị M2 không biết số tiền này do bị cáo trộm cắp tài sản mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị M2 là phù hợp.
[6]. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo P còn khai nhận cùng bị cáo L1 và bị cáo N thực hiện 02 vụ trộm xe mô tô khác trên địa bàn thị trấn M và xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Cơ quan điều tra ra thông báo truy tìm bị hại trong các vụ trộm máy cắt cỏ và 02 xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau. Đối với hai đối tượng tên M1 và H, qua công tác trinh sát chưa xác định được, đề nghị tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[7]. Về vật chứng:
[7.1]. Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký và xe mô tô 02 bánh biển số 63B8-023.75, nhãn hiệu Honda, loại xe WaveS, màu đen-bạc; số máy: C52E-4102606; số khung: 5216CY087570, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định xe mô tô này do bà Phạm Thị C, sinh năm 1967, trú tại Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang đứng tên sở hữu. Bà C đã bán lại xe này cho Nguyễn Văn D nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh D là phù hợp, Hội đông xét xử không xem xét.
[7.2]. Đối với số tiền 1.000.000 đồng anh M tự nguyện giao nộp lại. Đây là số tiền có được từ việc bán tài sản trộm cắp mà có. Ông Nguyễn Văn N2 đã giao lại chiếc xe biển số 63B8-023.75 lại cho cơ quan điều tra, không yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại số tiền 4.500.000 đồng, bị hại anh D đã nhận lại được tài sản, do đó căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử cần thiết buộc sung số tiền vào ghân sách Nhà nước là phù hợp.
[7.3]. Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63K2 - 5037. Theo lời khai của bị cáo P và bị cáo N sau khi lấy trộm xe về để lại tại nhà anh C1 đến ngày hôm sau P trở lại lấy thì không còn xe và không biết xe ai đã lấy. Cơ quan điều tra thông báo truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa có kết quả, đè nghị tiếp tục xử lý theo quy định.
[7.4]. Đối với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo N nhận từ bị cáo P do hai bị cáo thỏa thuận giá bán xe mô tô biển số 63K2 – 5037 nhưng chưa bán được xe. Đây là tiền cá nhân của bị cáo P, không phải tiền thu lợi bất chính mà có. Tại phiên tòa bị cáo P yêu cầu bị cáo N trả lại, bị cáo N đồng ý trả tiền, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của hai bị cáo.
[7.5]. Đối với số tiền 3.500.000 đồng thu lợi bất chính, sau khi bán được xe máy biển số 63B8-023.75, bị cáo P và bị cáo L1 đã tiêu xài hết, nên cần buộc bị cáo P và bị cáo L1 mỗi bị cáo phải nộp lại 1.750.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại anh Văn Thanh T1 trình bày đã tự thỏa thuận được với gia đình các bị cáo về việc bồi thường giá trị xe máy biển số 63K2 – 5037 nên không yêu cầu các bị cáo P, N bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo N còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả tiền cho bị cáo P.
[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người bị hại anh Văn Thanh T1 được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người bị hại anh D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh M, ông N2 và bà C được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
[11]. Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P, Phạm Ngọc L1 và Nguyễn Đức Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Trọng N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/6/2024.
2. Về vật chứng:
* Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước vật chứng:
- Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) do anh Nguyễn Văn M tự nguyện giao nộp. Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự đang lưu, giữ theo Ủy nhiệm chi ngày 24/9/2024 do Cơ quan cảnh sát điều tra huyện T đã chuyển số tiền này vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang mở tại Kho bạc Nhà nước huyện T.
2.2. Buộc bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P nộp lại số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.
2.3. Buộc bị cáo Phạm Ngọc L1 nộp lại số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Đức Trọng N tự nguyện trả lại cho bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), thực hiện sau jhi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí:
* Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Các bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P, Phạm Ngọc L1 và Nguyễn Đức Trọng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Đức Trọng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
* Áp dụng các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo và người bị hại anh Văn Thanh T1 được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Người bị hại anh Nguyễn Văn D, người liên quan anh Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn N2, bà Phạm Thị C được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Hải Âu |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thoại Tấn P và đồng bọn phạm tội "Trộm cắp tài sản"
