1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 27/9/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đoàn Hồng Thắng.
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hòa và ông Đào Minh Ngọc
- Thư ký phiên toà: bà Lưu Thị Thu Hương - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Ngô Văn Hà và ông Nguyễn Quang L - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Trường S; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 23/12/1993, tại huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; nơi thường trú: xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện tại: thôn F, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; con ông Nguyễn Đức L1 và bà Hà Thị T; vợ là Xa Thị T1 và có 01(một) con; tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Lò Văn D; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 28/8/2002, tại huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi thường trú: thôn N, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện nay: thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; con ông Lò Văn P và bà Lò Thị Í; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Lục Văn H; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 09/10/1998, tại huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi thường trú: thôn C, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện nay: thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Giáy; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; con ông Lục Văn P1 và bà Lò Thị S1; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 08/8/2022, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/6/2023; tiền sự: không.
- Họ và tên: Đồng Văn K; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 22/12/1992, tại huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi thường trú: thôn B, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện nay: thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Đồng Văn C và bà Lò Thị L2; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 22/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2023; tiền sự: không.
- Họ và tên: Điền Văn H1; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 28/11/2000, tại huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi thường trú: thôn N, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện nay: thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Giáy; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; con ông Điền Văn T2 và bà Lường Thị G; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Hoàng Văn A; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 22/6/1994, tại huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi thường trú: thôn N, xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện nay: thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Giáy; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; con ông Hoàng Văn K1 và Lò Thị D1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 07/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
Bị hại: Công ty cổ phần X; địa chỉ: số I, N, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn P2, chức vụ: Giám đốc Công ty cổ phần X; sinh năm: 1982; nơi thường trú: I N, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn V; sinh năm: 1995; nơi thường trú: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1969; nơi thường trú: xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: thôn C, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Đồng Văn K: bà Vũ Thị U - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 05/01/2024, Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A do có nhu cầu sử dụng ma túy, D, K, H, H1 và A bàn nhau góp tiền mua ma túy Heroine về sử dụng nhưng không ai có đủ tiền. Do trước đó, trong quá trình đi làm, qua khu nhà ở liền kề Silk Path của Công ty cổ phần T6, thuộc thôn A, xã H, huyện V thì D, K, H, A và H1 đều nhìn thấy có nhiều thanh nhôm đang chờ lắp ráp, nên D đã rủ K, H, A và H1 trộm cắp để bán lấy tiền mua ma túy. D nói để D đi lấy trước xem như thế nào, nếu được, mọi người cùng đi lấy. Sau đó, D đi đến căn nhà L, Tòa SS11C, lấy trộm các thanh nhôm ngắn ở tầng 1 và cất giấu trong bụi cây gần lán, rồi quay lại lán. Lúc này, H hỏi D “Lấy được không, có bảo vệ không?”, D trả lời “Tao lấy xong rồi, không thấy bảo vệ, đi vào lấy đi”, thì H, H1, K, A đều hiểu ý D thông báo là lấy trộm được nhôm. K và A cùng đi đến căn nhà L, Tòa SS11D, lấy trộm các thanh nhôm để ở tầng 1, rồi cất giấu trong bụi cây gần lán. Còn H và H1 đã 02 lần cùng đi đến căn nhà L, Tòa SS11C, lấy trộm các thanh nhôm để ở tầng 1, rồi cũng cất giấu trong bụi cây gần lán.
Sau đó H1 và H dùng xe mô tô BKS 14K9-5564 để ở lán, chở 02 lượt đến quán thu mua sắt vụn của ông Nguyễn Văn T3 ở thôn C, xã H, huyện V, bán cho ông T3 được 2.500.000 đồng, rồi chia mỗi người 1.250.000 đồng. Sau đó, H1 và H quay về lán rồi rủ nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng. H1 góp 200.000 đồng, H góp 300.000 đồng, D góp 100.000 đồng, còn A, K nhờ H1 và Hồng ứng tiền trước để mua ma túy. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/01/2024, H1 mượn điện thoại của H rồi gọi cho Nguyễn Trường S hỏi mua 02 gói ma túy Heroine, thì S đồng ý và hẹn H1 đến gần nhà nghỉ B, thuộc thôn F, xã H, huyện V để giao dịch. Hồng điều khiển xe mô tô BKS 14K9-5564 chở H1 đến gần nhà nghỉ B thì H dừng xe, còn H1 một mình đến gặp S và mua được 02 gói ma túy Heroine với giá 600.000 đồng, sau đó H1 và H chia nhau mỗi người 01 gói ma túy rồi cùng nhau về lán. Khi về đến lán, H1 chia một phần ma túy từ gói ma túy của H1 cho D và A (A chưa đưa tiền cho H1 vì lúc này A chưa bán được nhôm). Còn H chia cho K một nửa ma túy từ gói ma túy của H, thì K đưa cho H 150.000 đồng. Sau đó, mỗi người tự tìm một chỗ để sử dụng ma túy. Sử dụng ma túy xong, D lấy xe mô tô BKS 14K9-5564 chở toàn bộ số nhôm trộm cắp được đến bán cho ông T3 được 920.000 đồng. Tiếp đó, K và A cũng dùng xe mô tô BKS 14K9-5564 chở 02 bao thanh nhôm trộm cắp được đến bán cho ông T3. Kiểu bán được 1.200.000 đồng, A bán được 720.000 đồng, rồi cả hai quay về lán ngủ.
Đến khoảng 05 giờ ngày 06/01/2024, A, D, H và H1 bàn nhau mỗi người góp 300.000 đồng để mua ma túy Heroine về sử dụng, sau đó cả bốn người đi ra ngoài, chỉ còn K đang ngủ trong lán. Khi K dậy, đã gọi điện thoại cho H, nhưng D đang cầm điện thoại của H, nên D nghe luôn, thì K đã nhờ D ứng trước 300.000 đồng để mua ma túy, D đồng ý. Sau đó, H1 gọi điện thoại cho S hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy Heroine, thì S đồng ý và hẹn H1 đến gần nhà nghỉ B để giao dịch. Lúc này, A và D đi xuống bãi đất trống dưới khu A, thuộc thôn D, xã H, huyện V trước, còn Hồng điều khiển xe mô tô BKS 14K9-5564 chở H1 đến gần nhà nghỉ B, thì H1 một mình đến gặp S và mua được 05 gói ma túy Heroine với giá 1.500.000 đồng, rồi cùng H đi đến chỗ A và D đợi. Khi gặp A và D, H1 ném 05 gói ma túy vừa mua được xuống đất, sau đó H1, H, A mỗi người nhặt 01 gói ma túy rồi vào bụi cỏ tự sử dụng hết. Riêng D nhặt 02 gói ma túy rồi vào bụi cỏ sử dụng một nửa gói ma túy trước, để lại một nửa gói dùng sau, đồng thời cất riêng 01 gói ma túy để đem về cho K. Sử dụng ma túy xong, H1, H, A, D quay về lán, D đưa cho K 01 gói ma túy, thì K đưa cho D 300.000 đồng rồi K tự sử dụng hết ma túy.
Tại phiên tòa các bị cáo đều khai: Các bị cáo là người nghiện ma túy, do không có tiền để mua ma túy sử dụng, nên khi bị cáo D gợi ý đi trộm cắp, các bị cáo đều đồng ý. Lợi dụng đêm tối, không có người trông coi, bảo vệ, các bị cáo đã đến khu nhà đang xây dựng của Công ty Cổ phần T6, thuộc thôn A, xã H, huyện V trộm cắp các thanh nhôm cửa các loại, đang chờ lắp đặt. Sau đó các bị cáo mang toàn bộ tài sản trộm cắp được đi bán cho cửa hàng T7 phế liệu ở thôn C, xã H, huyện V do ông Nguyễn Văn T3 quản lý, được tổng số tiền là 5.340.000 đồng. Sau khi có tiền các bị cáo đã hai lần góp tiền cho bị cáo H1 đi mua ma túy Heroine để sử dụng.
Bị cáo H1 còn khai: sau khi nhận được tiền của K, H, A, D góp, bị cáo đã hai lần mua ma túy loại Heroine của bị cáo Nguyễn Trường S. Lần thứ nhất bị cáo mua 600.000 đồng vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/01/2024 và lần thứ hai mua 1.500.000 đồng vào khoảng 06 giờ sáng ngày 06/01/2024, đều tại khu vực vỉa hè trước nhà nghỉ B, thuộc thôn F, xã H, huyện V.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trường S khai: vào sáng ngày 06/01/2024 từ khoảng 00 giờ đến 06 giờ bị cáo đã hai lần bán ma túy loại Heroine cho bị cáo H1 đúng như lời khai của bị cáo H1 đã khai. Chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để trao đổi giao dịch bán ma túy cho H1 là chiếc điện thoại Nokia 105 bị thu giữ. Số ma túy bị cáo bán cho H1 là do bị cáo bán hộ cho anh T4 bị cáo không biết địa chỉ, lai lịch của T4. Số tiền 2.100.000 đồng bán ma túy cho H1 có được, bị cáo đã trả ngay cho T4.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Công ty Cổ phần X trình bày tại cơ quan Công an huyện V ngày 06/01/2024 như sau: Công ty Cổ phần X hiện đang thực hiện gói thầu tại dự án khu T ở thôn A, xã H, huyện V. Ngày 06/01/2024 Công ty phát hiện bị mất trộm một số tài sản gồm khoảng 180 kg nhôm thanh sơn ghi sần RC6608 và khoảng 05 kg gioăng cao su làm cửa các loại của công trình. Công ty đã trình báo chính quyền địa phương và cơ quan Công an. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 25/9/2024 người đại diện hợp pháp của bị hại Công ty X, ông Nguyễn Văn V trình bày: do các bị cáo trộm cắp các khung cửa nhôm chờ lắp đặt đã làm gián đoạn công việc của Công ty. Nhưng số tài sản này đã kịp thu hồi, thiệt hại không đáng kể, nên Công ty không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Về phần trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Tòa án xử theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Văn T3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai: tối ngày 05 và rạng sáng ngày 06 tháng 01 năm 2024, ông có mua một số nhôm (loại nhôm dùng để làm cửa) của một số thanh niên, nhưng ông không biết đó là tài sản trộm cắp vì những người này khi bán có nói với ông là số tài sản đó là của họ và sáng hôm sau họ về sớm cần bán, nên ông đã đồng ý mua. Số tiền ông đã bỏ ra mua số nhôm này, ông không yêu cầu những người này hoàn trả lại cho ông.
Đến 12 giờ 05 phút cùng ngày 06/01/2024, tại thôn I, xã H, huyện V, Công an huyện V kiểm tra hành chính đối với Lò Văn D, phát hiện và thu giữ trong túi quần phía trước bên phải D đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại di động Redmi và 270.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số: 104/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 gói giấy bạc thu giữ của Lò Văn D là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,018 gam.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐG ngày 07/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận: 175 kg nhôm thanh ghi sần RC6608 đã được gia công trị giá 90.000 đồng/kg; 05 kg gioăng vách cao su trị giá 43.000 đồng/kg. Tổng giá trị tài sản định giá là 15.965.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 805/CT-VKSVĐ ngày 28/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Trường S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn tại phiên tòa: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ đã được công khai làm rõ tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận:
- Do cần tiền để mua ma túy sử dụng, vào đêm ngày 05 tháng 01 năm 2024 các bị cáo Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A lợi dụng đêm tối, không có người trông coi, đã đến khu nhà đang xây dựng của Công ty Cổ phần T6, thuộc thôn A, xã H, huyện V, trộm cắp 175 kg thanh nhôm ghi sần RC6608 và 05 kg gioăng cao su, dùng để lắp đặt cửa, trị giá 15.965.000 đồng của Công ty Cổ phần X (là đơn vị nhận thầu xây dựng nhà cho Công ty T6).
Vào khoảng 00 giờ 30 phút và 06 giờ 00 phút ngày 06 tháng 01 năm 2024 tại thôn F, xã H, huyện V bị cáo Nguyễn Trường S đã hai lần bán ma túy loại Heroine cho Điền Văn H1, một lần 02 gói ma túy và một lần 05 gói, trị giá 2.100.000 đồng.
Về vai trò của các bị cáo: trong số các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thì bị cáo D vừa là người khởi xướng vừa là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có vai trò đầu vụ, còn các bị cáo Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A là những người thực hiện hành vi phạm tội có vai trò ngang nhau. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ba bị cáo D, H1, A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hai bị cáo K và H đều có 01 tiền án, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo Nguyễn Trường S phạm tội độc lập, không có đồng phạm.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07/01/2024)
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 23/5/2024).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lục Văn H và bị cáo Đồng Văn K, mỗi bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 23/5/2024 ).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Điền Văn H1 và bị cáo Hoàng Văn A, mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 23/5/2024).
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: số tiền 2.489.000 đồng do các bị cáo D, K, H, H1, A phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 của bị cáo S dùng vào việc phạm tội. Buộc bị cáo S nộp lại số tiền 2.100.000 đồng do bán ma túy mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc sim điện thoại có số liên lạc là 0384.428.xxx
- + Trả lại cho bị cáo Lò Văn D 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 5 cùng 01 chiếc sim có số liên lạc là 0387.744.xxx; trả lại cho bị cáo Đồng Văn K 01 chiếc điện thoại Oppo cùng 01 chiếc sim có số liên lạc là 0328.740.xxx; trả lại cho bị cáo Lục Văn H 01 chiếc điện thoại Iphone 6 kèm theo sim có số liên lạc 0869.297.xxx.
Ý kiến của các bị cáo Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A và Nguyễn Trường S: đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hai bị cáo K và S đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho hai bị cáo.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đồng Văn K: Hành vi của bị cáo Đồng Văn K bị đưa ra xét xử hôm nay đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” như Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo Đồng Văn K còn là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí cho bị cáo K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A: tại phiên tòa các bị cáo Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo vào đêm ngày 05/01/2024 như nội dung bản cáo trạng thể hiện. Lời khai của các bị cáo D, K, H, H1, A phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong vụ án, phù hợp với vật chứng được thu giữ trong vụ án, kết luận định giá tài sản. Như vậy đủ cơ sở kết luận: vào đêm ngày 05/01/2024, do không có tiền để mua ma túy sử dụng, bị cáo D đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và rủ các bị cáo K, H, H1, A đến khu khu nhà ở liền kề Silk Path của Công ty cổ phần T6, thuộc thôn A, xã H, huyện V để trộm cắp các thanh nhôm, các bị cáo K, H, H1, A đồng ý. Lợi dụng đêm tối, không có người trông coi các bị cáo đã đi đến khu nhà ở liền kề Silk P trộm cắp các thanh nhôm, gioăng cao su dùng để làm cửa nhà các loại của Công ty cổ phần X đang chờ để lắp đặt. Sau đó các bị cáo đem số nhôm trộm cắp được, bán cho ông Nguyễn Văn T3 ở thôn C, xã H, huyện V được tổng số tiền 5.340.000 đồng. Tổng số tài sản các bị cáo trộm cắp của Công ty cổ phần X là 175 kg nhôm thanh sơn ghi sần RC6608 và 05 kg gioăng cao su, tổng trị giá là 15.965.000 đồng. Hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần X trị giá 15.965.000 đồng của các bị cáo Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố các bị cáo D, K, H, H1, A là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hành vi bị truy tố của bị cáo Nguyễn Trường S: tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trường S đã khai nhận hai lần bán ma túy cho Điền Văn H1 như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo S phù hợp với lời khai của bị cáo H1 về thời gian, địa điểm mua bán ma túy, về hình thức giao dịch, số lượng ma túy, loại ma túy, số lần và số tiền mua bán ma túy từng lần... Như vậy đủ cơ sở kết luận: từ 00 giờ 00 phút đến 06 giờ, ngày 06/01/2024, tại thôn F, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh bị cáo Nguyễn Trường S đã 02 (hai) lần bán ma túy loại Heroine cho Điền Văn H1, với số tiền thu được là 2.100.000 đồng. Hành vi hai lần bán ma túy cho Điền Văn H1 của bị cáo Nguyễn Trường S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố bị cáo Nguyễn Trường S là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án: trong vụ án này các bị cáo Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A đã cùng cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ, chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo D vừa là người khởi xướng vừa là người thực hành, các bị cáo Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A là những người thực hành. Tài sản bị cáo nào trộm cắp được bao nhiêu thì tự bán lấy tiền bấy nhiêu không có sự bàn bạc thỏa thuận về phân chia tài sản trộm cắp được. Tài sản các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi. Hành vi phạm tội của các bị cáo D, K, H, H1, A đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức kinh tế, làm chậm tiến độ thi công công việc của bị hại, gây mất an ninh trật tự xã hội, ảnh hưởng xấu đến chính sách thu hút đầu tư của địa phương.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trường S mang tính chất độc lập, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, việc bị cáo bán trái phép chất ma túy không chỉ tiếp tay cho những đối tượng sử dụng ma túy mà còn gieo rắc tệ nạn xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo Nguyễn Trường S, Lò Văn D, Điền Văn H1, Hoàng Văn A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lục Văn H có 01 tiền án 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bản án hình sự số: 133/2022/HS-ST ngày 08/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; bị cáo Đồng V1 Kiểu có 01 tiền án 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bản án hình sự số: 51/2021/HS-ST ngày 22/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Hai bị cáo H và K phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo S, D, K, H, H1, A đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ba bị cáo D, H1, A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ba bị cáo này theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân các bị cáo: cả 06 bị cáo trong vụ án này đều là người nghiện ma túy hoặc đã sử dụng ma túy từ lâu.
[6] Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ, vai trò phạm tội, nhân thân, của từng bị cáo trong vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với tất cả 06 bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều là những người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng khoản 5 Điều 173 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về phần dân sự: hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của các bị cáo D, K, H, H1, A đã gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản là Công ty Cổ phần X, tuy nhiên Công ty Cổ phần X không yêu cầu các bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3 là người đã bỏ tiền ra mua tài sản do các bị cáo trộm cắp. Khi mua ông T3 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, ông không yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền này, nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Về vật chứng của vụ án: trong quá trình tra cơ quan Công an đã tạm giữ gồm:
- + 175 kg nhôm khung cửa và 05 kg gioăng cao su, số tài sản này là tài sản thuộc sở hữu của bị hại Công ty Cổ phần X do các bị cáo trộm cắp. Cơ quan Công an đã trao trả lại cho chủ sở hữu, việc trao trả này là phù hợp pháp luật.
- + 01 chiếc điện thoại Nokia thu của bị cáo S, gồm cả sim là công cụ bị cáo S dùng vào việc phạm tội bán trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại. Còn chiếc sim gắn trong chiếc điện thoại này không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.;
- + 03 chiếc điện thoại gồm cả sim, thu của ba bị cáo D, H và K là tài sản của bị cáo D, H và K không sử dụng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo D, H và K theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Số tiền 2.489.000 đồng (trong đó thu của D 270.000 đồng; của Kiểu 569.000 đồng; của H 650.000 đồng, của H1 650.000 đồng và của A 350.000 đồng) là tiền do các bị cáo phạm tội mà có, đồng thời ông Nguyễn Văn T3 không yêu cầu các bị cáo hoàn trả, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + 0,018 gam ma túy Heroine thu của bị cáo D sau khi giám định không còn.
[10] Về biện pháp tư pháp: Nguyễn Trường S bán trái phép chất ma túy cho H1 thu được số tiền 2.100.000 đồng. Số tiền này là do phạm tội mà có, nên cần buộc bị cáo S phải nộp lại để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[11] Về các vấn đề khác: hành vi tàng trữ trái phép 0,018 gam ma túy Heroine của Lò Văn D chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Cơ quan Công an huyện V đã xử phạt vi phạm hành chính đối với D là phù hợp pháp luật.
Đối với đối tượng tên T4, mà bị cáo S khai là người đã đưa ma túy cho S để S bán cho H1 và đối tượng tên T5 là người mà bị cáo K khai đã nhiều lần cho bị cáo ma túy sử dụng. Cơ quan điều tra đã xác minh, nhưng chưa làm rõ được, nên không đủ cơ sở để xử lý trong vụ án này.
[12] Về án phí: các bị cáo Lò Văn D, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hai bị cáo Đồng Văn K và Nguyễn Trường S là những cá nhân thuộc hộ nghèo, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho hai bị cáo này theo quy định của điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
[13] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07/01/2024)
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn D 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 23/5/2024 ).
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lục Văn H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 23/5/2024 ).
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đồng Văn K 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 23/5/2024).
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58 và các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Điền Văn H1 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 23/5/2024).
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 58 và điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn A 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 23/5/2024).
- Về xử lý vật chứng và tài sản bị tạm giữ: căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: số tiền 2.489.000 đồng (Hai triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn đồng) hiện đang được tạm giữ trong tài khoản số 3949.0.102077900000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tại Kho bạc Nhà nước huyện V, tỉnh Quảng Ninh và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc sim điện thoại có số liên lạc là 0384.428.xxx.
- + Trả lại cho bị cáo Lò Văn D 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi cùng 01 chiếc sim có số liên lạc là 0387.744.xxx; trả lại cho bị cáo Đồng Văn K 01 chiếc điện thoại Oppo cùng 01 chiếc sim có số liên lạc là 0328.740.xxx; trả lại cho bị cáo Lục Văn H 01 chiếc điện thoại Iphone 6 cùng 01 chiếc sim có số liên lạc là 0869.297.xxx.
- (Tình trạng vật chứng và tài sản bị tam giữ trên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 32/BB-CCTHADS ngày 30/8/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn).
- Về biện pháp tư pháp: căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Trường S phải nộp lại số tiền 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lò Văn D, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đồng Văn K và bị cáo Nguyễn Trường S.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo Lò Văn D, Đồng Văn K, Lục Văn H, Điền Văn H1, Hoàng Văn A, Nguyễn Trường S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (27/9/2024). Bị hại Công ty Cổ phần X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Hồng Thắng |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội "trộm cắp tài sản" và tội "mua bán trái phép chất ma túy"
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vào đêm ngày 05/01/2024, do không có tiền để mua ma túy sử dụng, bị cáo Du đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và rủ các bị cáo Kiểu, Hồng, Hoàn, An đến khu khu nhà ở liền kề Silk Path của Công ty cổ phần Trách nhiệm hữu hạn một thành viên CEO Vân Đồn, thuộc thôn 1, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn để trộm cắp các thanh nhôm, các bị cáo Kiểu, Hồng, Hoàn, An đồng ý. Lợi dụng đêm tối, không có người trông coi các bị cáo đã đi đến khu nhà ở liền kề Silk Path trộm cắp các thanh nhôm, gioăng cao su dùng để làm cửa nhà các loại của Công ty cổ phần xây dựng Win đang chờ để lắp đặt. Sau đó các bị cáo đem số nhôm trộm cắp được, bán cho ông Nguyễn Văn Trưởng ở thôn 3, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn được tổng số tiền 5.340.000 đồng. Tổng số tài sản các bị cáo trộm cắp của Công ty cổ phần xây dựng Win là 175 kg nhôm thanh sơn ghi sần RC6608 và 05 kg gioăng cao su, tổng trị giá là 15.965.000 đồng từ 00 giờ 00 phút đến 06 giờ, ngày 06/01/2024, tại thôn 6, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh bị cáo Nguyễn Trường Sơn đã 02 (hai) lần bán ma túy loại Heroine cho Điền Văn Hoàn, với số tiền thu được là 2.100.000 đồng
