Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ CÁT

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày: 26/7/2024.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Lân.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Đặng Hữu Lộc.
    • 2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ ngày 16/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn N; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/6/1997 tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đặng Văn T, sinh năm: 1971 (chết) và bà Bùi Thị C, sinh năm: 1969; Vợ: Hồ Thị Mỹ H, sinh năm: 1997; Con: 01 người, sinh năm: 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 12/3/2024 cho đến nay.

(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Đặng Văn H1, sinh năm: 1988; (có mặt)
  • Nơi cư trú: Số A Đ, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/8/2021, do cần vốn mở quán ăn uống nên Đặng Văn H1 (sinh năm: 1988 ở thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định) liên hệ hỏi mượn được của Đặng Văn N số tiền 20.000.000 đồng; khi cho mượn N nói với H1: chỗ anh em trong nhà nên Năm hỏi chỗ khác cho H1 mượn đỡ tháng sau trả lại, không lấy lãi. Ngày 10/9/2021, H1 tiếp tục mượn của Năm 30.000.000 đồng. Tổng cộng 02 lần mượn tiền là 50.000.000 đồng. Khi đưa tiền N nói với H1: đến đầu tháng sau (tức tháng 10/2021) gom đủ 50.000.000 đồng trả lại, H1 đồng ý. Cả hai lần mượn này, Năm không tính tiền lãi đối với H1. Tuy nhiên, đến ngày 11/10/2021, N gặp H1 hỏi: có tiền chưa để trả lại; H1 nói: chưa đủ tiền nên chưa trả được, hẹn vài ngày nữa sẽ trả đủ; Năm nói: nếu chưa có tiền trả ngay bây giờ thì sẽ lấy tiền lãi với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày; H1 đồng ý với lãi suất do N đưa ra. Tuy nhiên, từ ngày 11/10/2021 đến ngày 10/01/2022, vẫn không thấy H1 trả lãi nên N đến gặp H1 hỏi: sao lâu quá rồi mà chưa trả lãi; H1 nói: chưa có tiền để vài hôm nữa sẽ trả ngay; Năm đồng ý nhưng với điều kiện: 03 tháng chưa trả lãi nên tính lãi tổng cộng là 22.500.000 đồng, sẽ cộng dồn vào tiền gốc; H1 đồng ý nhưng bảo N bỏ bớt 2.500.000 đồng, còn 20.000.000 đồng cộng vào gốc; Năm đồng ý. Như vậy đến ngày 10/01/2022, H1 đã vay của Năm tiền mặt cộng tiền lãi vào gốc tổng số tiền là 70.000.000 đồng nên bắt đầu từ ngày 10/01/2022, H1 phải trả lãi cho N đối với số tiền vay 70.000.000 đồng. Cụ thể như sau:

  • - Từ ngày 11/10/2021 đến ngày 10/01/2022 Năm cho H1 vay 50.000.000 đồng:
    • + Từ ngày 11/10/2021 đến ngày 10/01/2022 (03 tháng) với lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng với lãi suất 182,5%/năm); H1 phải trả lãi là 22.500.000 đồng nhưng Năm chỉ lấy 20.000.000 đồng, cao gấp 9,125 lần so với lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định (20%/năm). Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.500.000 đồng. Thu lợi bất chính 17.500.000 đồng.
  • - Từ ngày 10/01/2022 đến ngày 10/7/2022: vay 70.000.000 đồng (50.000.000 đồng tiền gốc và 20.000.000 đồng tiền lãi nhập gốc). Cụ thể như sau:
    • + T1 lãi từ ngày 11/01/2022 đến ngày 10/02/2022 (30 ngày) với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm), cao gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS (20%/năm). Do đó, H1 phải trả lãi cho N là 10.500.000 đồng/70.000.000 đồng/tháng nhưng Năm cho H1 500.000 đồng. Ngày 17/02/2022, H1 chuyển khoản tiền lãi vào tài khoản ngân hàng của Năm, số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.116.666 đồng. Do đó, N thu lợi bất chính số tiền 8.833.334 đồng.
    • + Thu tiền lãi từ 11/02/2022 đến ngày 10/4/2022 (60 ngày) với lãi suất 3.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày (127,75%/năm), cao gấp 6,3875 lần mức lãi suất cao nhất quy định của BLDS(20%/năm). Do đó, H1 phải trả lãi cho Năm 14.700.000 đồng/70.000.000 đồng/02 tháng. Ngày 13/4/2022, H1 chuyển khoản
    • tiền lãi vào tài khoản ngân hàng của Năm số tiền 15.000.000 đồng. Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.333.332 đồng. Do đó, N thu lợi bất chính số tiền 12.666.668 đồng.
    • + T1 lãi từ ngày 11/6/2022 đến ngày 10/7/2022 (30 ngày), với mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (182,5%/năm), cao gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS (20%năm). Do đó, H1 phải trả lại cho N là 10.500.000 đồng/70.000.000 đồng/tháng. Ngày 15/7/2022, H1 chuyển khoản tiền lãi vào tài khoản ngân hàng của Năm số tiền 10.500.000 đồng. Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.116.666 đồng. Do đó, N thu lợi bất chính số tiền 9.333.334 đồng.

- Khoảng tháng 9/2022, do làm ăn thua lỗ nên H1 thương lượng chuyển cho Năm 10.000.000 đồng để trả lãi cho 02 tháng (từ ngày 11/7/2022 đến 11/9/2022), N đồng ý. Ngày 23/9/2022, H1 chuyển khoản trả lãi cho Năm 10.000.000 đồng. Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.333.332 đồng. Do đó, N thu lợi bất chính 7.666.668 đồng.

Đặng Văn H1 sử dụng số tài khoản 19030582463015 mang tên DANG VAN HA của ngân hàng T2 chuyển trả tiền lãi cho Đặng Văn N qua tài khoản ngân hàng V, số tài khoản 0381000466573 mang tên DANG VAN NAM.

Khoảng tháng 11/2022, H1 chuyển đến thị xã A, tỉnh Gia Lai sinh sống, Năm liên tục gọi điện thoại đòi tiền H1 nhưng H1 không trả tiền lãi và gốc cho N nên N nhờ Võ Văn H2 và một số người đến nơi sinh sống của H1 để đòi nợ cho N. Tại đây, H2 và đồng phạm phát sinh hành vi khống chế, bắt giữ H1, buộc H1 đưa 20.000.000 đồng nên H1 phải liên hệ với người thân đưa cho H2 20.000.000 đồng. Đến tháng 9/2023, H2 cùng một số người tiếp tục đến chỗ ở của H1 để đòi tiền thì bị Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai bắt giữ về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, xác định Đặng Văn N không đồng phạm với Võ Văn H2 nên tách hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Năm chuyển cho cơ quan CSĐT Công an huyện P xử lý.

Như vậy, từ ngày 11/10/2021 đến ngày 11/9/2022, Đặng Văn N cho Đặng Văn H1 vay 50.000.000 đồng, tổng số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS là 9.499.996 đồng. T1 được tổng tiền lãi là 65.500.000 đồng. Năm thu lợi bất chính với số tiền 56.000.004 đồng.

Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của Đặng Văn N và Đặng Văn H1 từ đầu tháng 10/2021 đến tháng 9/2022 thể hiện rõ hoạt động nhận, chuyển tiền lãi suất theo ngày phù hợp với nội dung khai nhận của Đặng Văn H1.

Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSPC, ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Đặng Văn N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng

Văn N về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của BLHS năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 201, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Đặng Văn N với mức án 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 30.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

Đề nghị truy thu của Đặng Văn H1 số tiền 50.000.000 đồng bị cáo đã sử dụng cho vay lãi nặng mà H1 chưa trả cho N để sung ngân sách Nhà nước. Đồng thời, đề nghị truy thu số tiền 9.499.996 đồng tiền lãi theo mức cao nhất quy định của Bộ luật dân sự bị cáo đã chiếm hưởng để nộp ngân sách Nhà nước; Buộc bị cáo Đặng Văn N trả lại cho Đặng Văn H1 số tiền thu lợi bất chính là 56.000.004 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Tuy nhiên, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Đặng Văn H1 thống nhất về số tiền thu lợi bất chính là 56.000.004 đồng nhưng thực tế thì số tiền lãi 20.000.000 đồng nhập vào số tiền gốc 50.000.000 đồng, bị cáo chưa thu nên hai bên thống nhất đề nghị HĐXX xem xét lại số tiền 20.000.000 đồng trên tổng số tiền thu lợi bất chính để trả lại cho Đặng Văn H1. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.

[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, tính chất nguy hiểm của hành vi, HĐXX thấy rằng:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp kết quả sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được HĐXX thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:

Do có mối quan hệ anh em chú bác ruột, lúc đầu Đặng Văn H1 mượn tiền của Đặng Văn N 20.000.000 đồng để kinh doanh nhưng không xác định lãi suất. Khi hết thời hạn thỏa thuận, H1 không trả tiền cho N mà tiếp tục mượn thêm 30.000.000 đồng nữa; Do đó, hai bên xác định mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Như vậy, trong khoảng thời gian từ tháng 9/2021 đến ngày 11/9/2022, Đặng Văn N đã cho Đặng Văn H1 vay số tiền 50.000.000 đồng, cộng với khoản tiền lãi 20.000.000 đồng nhập gốc thành 70.000.000 đồng, với mức lãi suất 127,75% đến 182,5%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều 468 (20%/năm) từ 06 đến 09 lần mức lãi suất cao nhất BLDS quy định. Tổng số tiền lãi là 65.500.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 9.499.996 đồng, xác định thu lợi bất chính với số tiền 56.000.004 đồng nhưng thực tế bị cáo đã thu lợi bất chính là 36.000.004 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố để cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của BLHS năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Đặng Văn N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và trật tự kinh tế. Do đó, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[3]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Xét hoàn cảnh của gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, xuất phát từ mục đích ban đầu bị cáo cho mượn tiền không xác định lãi suất. Đồng thời, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có một phần lỗi là trốn tránh nghĩa vụ trả tiền cho bị cáo. Vì vậy, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt và áp dụng Điều 36 để phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị là phù hợp.

[4]. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

[4.1]. Về trách nhiệm dân sự: Không.

[4.2]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

  • - Đối với số tiền gốc 50.000.000 đồng, Đặng Văn H1 đã vay của bị cáo đến nay vẫn chưa trả, xét thấy đây là số tiền của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên truy thu của Đặng Văn H1 để sung vào ngân sách Nhà nước. Đặng Văn H1 không có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất BLDS quy định (20%/năm) là 9.499.996 đồng. Đây là khoản tiền lãi bị cáo Đặng Văn N đã nhận từ Đặng Văn H1 nên truy thu của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với khoản tiền thu lợi bất chính do lãi vượt trên mức lãi suất cao nhất BLDS quy định là 56.000.004 đồng. Thực tế số tiền trên được xác định là số tiền thu lợi bất chính vượt trên mức lãi suất BLDS quy định. Tuy nhiên, tại phiên tòa Đặng Văn H1 và bị cáo xác định số tiền lãi trên là bao gồm 20.000.000 đồng mà H1 chưa trả cho bị cáo nên buộc bị cáo trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Đặng Văn H1 36.000.0004 đồng (56.000.004 đồng – 20.000.000 đồng).

[5]. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201, điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Căn cứ Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn N phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn N 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành án tính từ ngày cơ quan Thi hành án Hình sự Công an huyện P, tỉnh Bình Định nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho

UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định trực tiếp quản lý, giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

  1. Về các biện pháp tư pháp:
    • - Truy thu số tiền gốc 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) của Đặng Văn H1 đã vay của bị cáo để sung ngân sách Nhà nước.
    • - Truy thu số tiền lãi 9.499.996 đồng (chín triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng) tương ứng với mức lãi suất cao nhất BLDS quy định của bị cáo thu được từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Đặng Văn H1 để sung ngân sách Nhà nước.
    • - Buộc bị cáo trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Đặng Văn H1 số tiền 36.000.004 đồng (ba mươi sáu triệu không trăm lẻ bốn đồng) là số tiền bị cáo thu lợi bất chính do lãi vượt trên mức lãi suất BLDS quy định.
  2. Về án phí: Bị cáo Đặng Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
  3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Phù Cát;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Cát;
  • - Đội Tham mưu Tổng hợp Công an huyện Phù Cát;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Cát;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Lê Lân

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hữu Lộc

Nguyễn Thị Tuyết Vân

Phan Lê Lân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐẶNG VĂN N - CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger