Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 26/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hường và ông Phạm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: ông Lê Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T - Sinh ngày: 14/12/1990, tại Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; Quốc Tịch: Việt Nam; cha: Lê Văn T1; mẹ: Võ Thị P; Vợ, con: chưa có.

- Tiền án, tiền sự: không.

- Nhân thân:

  • Ngày 30/11/2011, bị Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 4 năm tù về tội Cướp giật tài sản.
  • Ngày 26/11/2014, bị Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 4 năm tù về tội Cướp giật tài sản.
  • Ngày 31/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 4 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản.

Bị cáo hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B – Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 17 giờ 00 phút ngày 24/12/2023, Công an huyện N phối hợp với Công an xã P tiến hành kiểm tra nhà nghỉ H1 tại thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình kiểm tra giấy tờ của T, phát hiện trong ví da màu đen của T có hai túi zip gồm: 01 (một) túi zip bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) túi zip bên trong có chứa chất bột màu trắng, đã ngả vàng và 01 (một) viên nén màu hồng. Lê Văn T khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy dạng “khay” (hay gọi là K), viên nén màu hồng là “thuốc lắc” của T cất giấu để sử dụng. Công an huyện N đã tiến hành lập Biên bản thu giữ toàn bộ tang vật, ngoài ra còn thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, loại cảm ứng, màu xanh lá đen, bên ngoài có ốp lưng trong suốt, màn hình bị nứt vỡ, số máy NT742ZA/A, số seri: C39XC62WKPJ3, có gắn 01 sim Viettel số: 0989.114.xxx; 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy S22 Ultra, loại cảm ứng, màu xanh lá đen, bên ngoài có ốp lưng trong suốt, màn hình bị nứt vỡ, số seri: R5CT31FL67W, IMEI 1: 351338911636701, số IMEI 2: 351467441636707, có gắn 01 sim Mobiphone số: 0433.639.xxx để phục vụ công tác điều tra.

Tại Kết luận giám định số 21/KL-KTHS, ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Chất rắn màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 túi zip được gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0800 gam.

Tại Kết luận giám định số 374/KL-KTHS, ngày 19/01/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Tp. kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nylon, gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng: 0,1207 gam, loại MDMA, Ketamine. Viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng: 0,2536 gam, loại: Metamphetamine, MDMA, Ketamine.

Tại cơ quan Điều tra, Lê Văn T khai nhận: Khoảng giữa tháng 12/2023, T xăm hình cho một người tên H (chưa rõ lai lịch) ở Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì được H cho hai túi zip chứa ma túy để sử dụng. Triều cất vào ví da màu đen của mình nhằm mục đích sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị phát hiện.

Cáo trạng số 31/CT-VKS-HS ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước giữ nguyên nội dung truy tố tại bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị giải quyết xử lý vật chứng, nghĩa vụ án phí theo quy định của pháp luật.

2

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại hiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở xác định:

Lê Văn T cất giấu 02 túi nilon (túi zíp) bên trong có chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng là ma túy qua giám định xác định gồm: Methamphetamine; Ketamine và MDMA có tổng khối lượng là (1,0800 + 0,1207 + 0,2536)g = 1,4543g nhằm mục đích để sử dụng.

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”.

Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng tuy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

3

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo đã bị xét xử 03 lần về tội phạm xâm phạm tài sản, tuy đã chấp hành án xong, nhưng không lấy đó làm bài học để tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới các tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và các quy tắc của cuộc sống đồng thời có tác dụng đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[5]. Biện pháp tư pháp:

Đối với vật chứng là các khối lượng chất ma túy còn lại sau giám định tịch thu tiêu hủy; các vật chứng khác không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo được trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lê Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 24/12/2023).

* Các biên pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: khối lượng ma túy còn lại sau giám định ký hiệu mẫu M khối lượng 0,4530g và toàn bộ bao gói gửi giám định hoàn lại theo kết luận số 21/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N.

Trả lại cho bị cáo Lê Văn T: 01 điện thoại Iphone Xs Max loại cảm ứng, màu xanh đen, bên ngoài có ốp lưng trong suốt, màn hình bị nứt vỡ, số máy NT742ZA/A, số Seri: C39XC62WKPJ3, gắn 01 sim Vietel số 0989.114.xxx;

Trả lại cho bị cáo Lê Văn T: 01 điện thoại Galaxy S22 Ultra, loại cảm ứng, màu xanh đen, bên ngoài có ốp lưng trong suốt, màn hình bị nứt vỡ, số seri R5CT31FL67W, số IMEI 1: 35338911636701, số IMEI2:351467441636707, có gắn Sim Mobiphone số 0433.639.xxx.

Vật chứng đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi

4

hành án dân sự huyện Ninh Phước.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/7/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Công an huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tùng

5

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hường

Phạm Ngọc Minh

Trần Văn Tùng

6

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phú Anh Lân

Lê Thị Hường

Trần Văn Tùng

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê VĂn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 bLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger