Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Anh Tấn – Bí thư Đoàn Thanh niên Công sản Hồ Chí Minh thị trấn An Châu, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Bà Trần Việt Hồng Phượng – Bác sỹ – Trung tâm Y tế huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 Tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Trí B, sinh ngày 29-5-2005 tại xã A, huyện C, tỉnh An Giang; CCCD số [...]; đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H, sinh năm 1986, còn sống và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983, còn sống; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17-12-2023 cho đến nay (có mặt).
  2. Nguyễn Đăng K, sinh ngày 14-02-2007 tại thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; CCCD số [...]; đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1982, đã chết và bà Trần Thị Quý N, sinh năm 1983, còn sống; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17-12-2023 cho đến ngày 07-02-2024 bị bắt, tạm giữ, tạm giam cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ – Công an huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đăng K:

  1. Trần Thị Quý N, sinh năm 1983 (vắng mặt). Nơi cư trú: khóm H6, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
  2. Ông Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1963 (có mặt). Nơi cư trú: khóm H6, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Văn H2 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A (có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Thành N2, sinh ngày 01-01-2007; trú tại: Tổ B, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ – Công an huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hồ Thị N3, sinh năm 1962; ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1983; bà Phạm Thị Hồng H3, sinh năm 1986; cùng trú tại: Tổ B, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt, riêng ông S vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phan Hoàng H4, sinh ngày 18-11-2008; trú tại: Tổ B, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
  2. Anh Huỳnh Quốc B1, sinh ngày 21-10-2007; trú tại: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
  3. Chị Trương Thị Thủy T, sinh ngày 19-12-2007; trú tại: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Võ Thị Cẩm T1, sinh năm 1976 – Mẹ ruột của Phan Hoàng H4; trú tại: Tổ B, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
  2. Ông Huỳnh Công C, sinh năm 1979 – Cha ruột của Huỳnh Quốc B1; trú tại: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
  3. Trương Thị H5, sinh năm 1991 – Mẹ ruột của Trương Thị Thủy T; trú tại: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Hoàng H4: Ông Hà Quang V – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Quốc B1, chị Trương Thị Thủy T: Ông Phạm Minh T2 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A (có mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Châu P, ông Nguyễn Thanh S1, ông Nguyễn Văn T3, ông Mạch Văn L, ông Quách Hoàng G, ông Hồ Ngọc K1, ông Nguyễn Đình K2 (tất cả vắng mặt, riêng ông T3 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 05-10-2023, Trương Thị Thủy T uống rượu cùng với Nguyễn Thành N2, Hồ Ngọc K1, Quách Hoàng G tại nhà của K1; thì giữa TN2 xảy ra mâu thuẫn, T gọi điện thoại cho Trần Trí B nhờ B đánh Ngọt trả thù thì B đồng ý.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, Phan Hoàng H4 điều khiển xe chở Huỳnh Quốc B1 ngang nhà B, B gọi H4B1 rủ đi tìm N2 chém gây thương tích thì H4B1 đồng ý; sau đó H4 rủ Nguyễn Đăng K cùng tham gia thì khoa đồng ý.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, K điều khiển xe gắn máy biển số 67AB – 016.29 chở H4 đến nhà B1, cả 3 chở nhau đến khu trung tâm thương mại C1 gặp B và hẹn gặp tại cổng sau; sau đó K, H4, B1 chở nhau đến quán càfe N4 lấy 02 cây dao tự chế dài khoảng 60cm được cất giấu trong khu vực chứa đồ của quán; H4, B1 mỗi người cầm 01 cây dao tự chế đến gặp B tại chỗ hẹn; sau đó B điều khiển xe mô tô biển số 67C1 – 915.68 chở B1 cầm dao tự chế, K điều khiển xe gắn máy biển số 67AB – 016.29 chở H4 cầm dao tự chế đi tìm N2 để chém. Khi đến quán C2 cặp Quốc lộ I, khu vực đất thánh thuộc ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang thì B1 thấy N2 ngồi trên võng trong quán, cả nhóm dừng xe; B1H4 cầm theo 02 cây dao tự chế đi vào quán, B không cầm hung khí đứng ngoài cửa quán, K ngồi trên xe đợi. B1 kêu N2 ra nhưng N2 không ra nên H4 tay phải cầm dao tự chế chém Ngọt trúng gối phải 01 cái và gối trái 01 cái gây thương tích; cùng lúc B1 cũng tay phải cầm dao tự chế chém xông vào chém Ngọt trúng gối phải 02 cái gây thương tích. Sau đó H4 chở khoa, B1 chở B tẩu thoát; H4, K mang 02 cây dao tự chế cất giấu lại trong khu vực chứa đồ của quán C3; ngày hôm sau B1 mang 02 cây dao tự chế đến cầu C thuộc xã C, huyện C, tỉnh An Giang ném xuống kênh phi tang. Ngọt đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ đến ngày 09-10-2023 thì xuất viện.

Vật chứng liên quan đến vụ án:

  • 01 xe mô tô biển số 67C1 – 915.68 đứng tên Nguyễn Văn D, tháng 02/2023 đã bán lại cho Trần Trí B.
  • 01 xe gắn máy biển số 67AB – 016.29 đứng tên Nguyễn Minh K3, năm 2020 đã bán lại cho Võ Thị Cẩm T1.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 755/23/KLTTCT-TTPY ngày 07-11-2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận đối với Nguyễn Thành N2. 1. Các kết quả chính: Sẹo mặt trước gối phải, nằm xiên, kích thước (5,2 x 0,8)cm là sẹo có kích thước lớn, tỷ lệ 03%: Gây mẻ vỏ xương bánh chè phải, tỷ lệ 02%. Sẹo mặt ngoài gối phải mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải, nằm xiên, kích thước (11 x 0,4)cm là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ 02%: Đứt bán phần gân bánh chè phải, đã phẩu thuật khâu gân bánh chè, tỷ lệ 06%. Mẻ 1/3 trên xương chày phải, tỷ lệ 01%. Hiện tại không hạn chế chức năng khớp gối phải. Sẹo mặt trước gối trái, nằm xiên, kích thước (07 x 0,3)cm là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ 02%: Đứt bán phần cơ tứ đầu đùi trái, đã phẩu thuật khâu gân cơ, tỷ lệ 06%. Mẻ vỏ xương bánh chè trái, tỷ lệ 02%. Hiện tại không hạn chế chức năng khớp gối trái. 2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Thành N2 tại thời điểm giám định là 22%. Kết luận khác: Cơ chế hình thành các thương tích trên do vật sắc gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo BH4 tác động gia đình bồi thường cho N2 mỗi người 10.000.000 đồng; bị hại anh Nguyễn Thành N2 yêu cầu 2 bị cáo bồi thường chi phí điều trị bệnh và tổn thất tinh thần là 40.000.000 đồng, đã nhận 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo B, bị cáo K3 tiếp tục tác động người nhà mỗi bị cáo bồi thường thêm cho anh N2 10.000.000 đồng; bị hại anh N2 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho 2 bị cáo.

Tại cơ quan Điều tra, các bị cáo, bị hại anh N2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh H4, anh B1, chị T; người làm chứng ông P, ông T3, ông L, ông G, ông K1 khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 27-3-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Trần Trí BNguyễn Đăng K về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có tính chất côn đồ).

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Trần Trí BNguyễn Đăng K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo. Bị hại anh N2 khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên, không yêu cầu 02 bị cáo BK phải bồi thường gì thêm và có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho 2 bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ khoản 2 Điều 134 (có tính chất côn đồ); Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 91 và Điều 101 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trí B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét; về vật chứng liên quan đến vụ án đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chủ sở hữu.

Người bào chữa cho bị cáo K, Trợ giúp viên pháp lý ông Phan Văn H2 trình bày: Thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức hình phạt như đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã tuy tố, nhưng có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét do bị rủ rê, sự nóng giận bộc phát nhất thời, tâm sinh lý của tuổi chưa thành niên. Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, Điều 101 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức 01 năm 03 tháng tù thấp hơn mức thấp nhất hình phạt như đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã đề nghị. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã tác động người nhà bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại và bị hại cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặtra xem xét. Về vật chứng liên quan đến vụ án, xe gắn máy biển số 67AB – 016.29 đứng tên Nguyễn Minh K3, năm 2020 đã bán lại cho bà Võ Thị Cẩm T1, bị cáo K3 sử dụng nhưng không ảnh hưởng gì đến việc H4B1 gây thương tích cho bị hại, bà T1 không biết, bà T1 có yêu cầu nhận lại. Căn cứ Điều 46, Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà T1.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Hoàng H4, Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V trình bày: Thống nhất với bản cao trạng, kết luận điều tra; anh H4 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự anh H4 cũng đã tác động người nhà bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng và bị hại cũng không yêu cầu anh H4 phải bồi thường gì thêm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Quốc B1Trương Thị Thủy T, Trợ giúp viên pháp lý ông Phạm Minh T2 trình bày: Thống nhất với bản cao trạng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh B1, chị T là đúng quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu anh B1, chị T phải bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bà Trần Thị Quý N là người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đăng K là người dưới 18 tuổi; ông Nguyễn Thành S là người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Thành N2 là người dưới 18 tuổi; người làm chứng ông Nguyễn Châu P, ông Nguyễn Thanh S1, ông Mạch Văn L, ông Quách Hoàng G, ông Hồ Ngọc K1, ông Nguyễn Đình K2; Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà N, ông S, ông P, ông S1, ông L, ông G, ông K1, ông K2 vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 8 của Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21 tháng 09 năm 2018, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà N, ông S, ông P, ông S1, ông L, ông G, ông K1, ông K2.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa 2 bị cáo Trần Trí BNguyễn Đăng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận tội của 2 bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Hoàng H4, Huỳnh Quốc B1, Trương Thị Thủy T; người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 19 giờ; ngày 05-10-2023, tại quán C2 cặp Quốc lộ I, khu vực đất thánh thuộc ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; Phan Hoàng H4, Huỳnh Quốc B1 là người chưa đủ 16 tuổi được sự rủ rê của Trần Trí B là người thành niên, dùng dao tự chế là hung khí nguy hiểm, chém gây thương tích gối trái và gối phải của bị hại anh Nguyễn Thành N2, làm anh N2 bị thương tật với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 22%. Đối với bị cáo B không gây thương tích cho bị hại nhưng là chủ mưu, rủ rê H4, B1 là người chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vi phạm tội. Đối với bị cáo K là người chưa đủ 18 tuổi, không gây thương tích cho bị hại nhưng đã giúp sức tích cực để H4B1 thực hiện hành vi phạm tội. Vì thế 2 bị cáo BK phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi do H4B1 gây ra.

Hành vi nêu trên của 2 bị cáo Trần Trí BNguyễn Đăng K đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm (tội phạm nghiêm trọng).

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không phân công cụ thể đây là đồng phạm giản đơn. Bị cáo B với vai trò chủ mưu, bị cáo K với vai trò giúp sức.

[3] Hành vi phạm tội của 02 bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Như chúng ta đều biết, tính mạng, sức khỏe là vốn quý nhất của con người, được Nhà nước bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị nghiêm trị. Bị cáo B là người thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo K tại thời điểm phạm tội là người chưa trưởng thành, nhưng đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; cả 2 có hiểu biết nhất định về pháp luật, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật. Trong vụ án này hành vi của 2 bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là sử dụng dao tự chế là hung khí nguy hiểm nhằm gây thương tích cho người khác, bị hại bị thương với tỷ lệ tổn thương là 22%, có tính chất côn đồ.

- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo B có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc Điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự là rủ rê người chưa thành niên phạm tội. Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa 2 bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; 2 bị cáo tác động người nhà bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; 2 bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị hại có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho 2 bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

- Đối với bị cáo K tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi, nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng những quy định của Bộ Luật Hình sự về xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Xét thấy: Bị cáo B được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết tăng nặng thuộc Điểm o khoản 1 Điều 52; bị cáo K được áp dụng 02 tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; tuy nhiên trong thời gian tại ngoại bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc 2 bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, 2 bị cáo đã tác động người nhà bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị hại không yêu cầu 2 bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

[6] Về vật chứng liên quan đến vụ án:

  • Đối với xe mô tô biển số 67C1 – 915.68 đứng tên Nguyễn Văn D, tháng 02/2023 đã bán lại cho Trần Trí B. khi gây án bị cáo B đậu xe bên ngoài không ảnh hưởng gì đến việc H4B1 gây thương tích cho bị hại. Căn cứ Điều 46, Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo B.
  • Đối với xe gắn máy biển số 67AB – 016.29 đứng tên Nguyễn Minh K3, năm 2020 đã bán lại cho Võ Thị Cẩm T1, K3 sử dụng nhưng không ảnh hưởng gì đến việc H4B1 gây thương tích cho bị hại, bà T1 không biết, bà T1 có yêu cầu nhận lại. Căn cứ Điều 46, Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà T1.

[7] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Trí BNguyễn Đăng K phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Trí B 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 91 và Điều 101 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 07-02-2024.

Căn cứ vào: Điều 46 và Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho Trần Trí B 01 xe mô tô biển số 67C1 – 915.68, nhãn hiệu: Honda, số loại: FUTURE, màu sơn: Tím, số khung: RLHJC35015Y011961, số máy: JC35E0012048, đứng tên Nguyễn Văn D.

Trả lại cho bà Võ Thị Cẩm T1 01 xe gắn máy biển số 67AB – 016.29, nhãn hiệu: YMHMAXNEO, số loại: 50, màu sơn: Đỏ – Đen, số khung: RNGKCB3NGC022182, số máy: VZS139FMB1022182, đứng tên Nguyễn Minh K3.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 17/QĐ-VKS ngày 27-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Căn cứ Điều 136 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Trần Trí BNguyễn Đăng K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23-5-2024).

Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Những người tham gia tố tụng;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • -Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • -Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện Châu Thành;
  • -Nhà Tạm giữ - Công an huyện Châu Thành;
  • -Phòng kiểm tra nghiệp vụ - Thi hành án, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • -Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang;
  • -Sở Tư pháp An Giang;
  • -Lưu văn phòng;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Đông Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trí Bảo, Nguyễn Đăng Khoa phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger