Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 11-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thương

Ông Triệu Tiến Lả

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Vương Xuân D, sinh ngày 22/7/1994 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Vương Xuân B – sinh năm 1965. Trú tại: Xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và bà: Trần Thị T – sinh năm 1970. Trú tại: Tổ A, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Có vợ là Hoàng Thị H – sinh năm 1995 và 02 người con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018. Cùng trú tại: Xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/4/2018, bị Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Mua bán lâm sản trái phép, xử phạt 15.000.000 đồng. Ngày 27/4/2018, bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến ngày 01/7/2024 được gia đình bảo lĩnh, hiện tại bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  2. Đồng Quảng Q, sinh ngày 01/01/1985 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Đồng Q – sinh năm 1954 và bà: Ngô Thị L – Sinh năm: 1958. Cùng trú tại: Xóm B, thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Có vợ là Nguyễn Thị N – sinh năm 1991 và 03 người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2019. Cùng trú tại: Xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/5/2019, bị Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại đến sức khoẻ của người khác, xử phạt 2.500.000 đồng. Ngày 03/6/2019, bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Chi cục Thuế khu vực I, tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn D1, Chức vụ: Phó đội Trưởng Đội kiểm tra Thuế khu vực IV, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  4. Ông Ma Văn N1, sinh năm 1964. Có mặt.
  5. Bà Nông Thị N2, sinh năm 1968. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lộc Văn V, sinh năm 1972. Vắng mặt.
  2. Ông Lương Văn T2, sinh năm 1973. Vắng mặt.
  3. Bà Lăng Thị D2, sinh năm 1982. Vắng mặt.
  4. Bà Lăng Thị N3, sinh năm 1968. Vắng mặt.
  5. Anh Lăng Tuấn V1, sinh năm 1999. Vắng mặt.
  6. Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1979. Vắng mặt.
  7. Anh Lộc Văn X, sinh năm 1996. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

  1. Ông Hà Hương L1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
  2. Anh Đàm Văn Đ, sinh năm 1989. Vắng mặt.
  3. Anh Vũ Văn Đ1, sinh năm 1989. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Anh Lý Văn H2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Quyết định số 3274/QĐ-UBND ngày 21/11/2023 của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn về việc kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn huyện B. Ngày 27/12/2023, Đoàn kiểm tra liên ngành thuộc Ủy ban nhân dân huyện B tiến hành kiểm tra Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản có địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả: Tại thời điểm kiểm tra, cơ sở đang hoạt động sản xuất chế biến lâm sản bình thường nhưng Cơ sở không xuất trình được giấy phép kinh doanh và hồ sơ đăng ký thuế; Cơ sở không cung cấp được sổ sách thể hiện việc nhập, xuất hàng hoá tuy nhiên kiểm tra máy tính tại cơ sở phát hiện trong máy tính có phần mềm lưu trữ dữ liệu (phiếu cân) liên quan đến việc nhập hàng hóa của cơ sở. Đoàn kiểm tra đã trích xuất dữ liệu ra bản giấy “XEM PHIẾU CÂN” tuy nhiên ông Hà Hương L1 - đại điện Cơ sở không ký xác nhận vào các bản dữ liệu. Đoàn kiểm tra đã lập biên bản làm việc, các thành phần đoàn kiểm tra ký vào “XEM PHIẾU CÂN” đồng thời tạm giữ đồ vật tài liệu liên quan để phục vụ công tác xác minh, xử lý theo quy định.

Xác định Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản có dấu hiệu của hành vi trốn thuế. Ngày 19/02/2024, Đoàn kiểm tra liên ngành Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn để điều tra, xác minh, xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng cuối năm 2021, đầu năm 2022 Vương Xuân D, sinh năm 1994, trú tại xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đi lên khu vực xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để tìm hiểu, nghiên cứu mở cơ sở chế biến lâm sản. Tại thị trấn B, Vương Xuân D gặp Đồng Quảng Q, sinh năm 1985, trú tại xóm T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên cũng đang đi tìm địa điểm để mở cơ sở chế biến lâm sản. Qua trao đổi, Vương Xuân D biết Đồng Quảng Q có đầu mối thu mua dăm gỗ, trong khi đó Vương Xuân D đang thiếu vốn nên Vương Xuân D đặt vấn đề với Đồng Quảng Q cùng nhau góp vốn mở cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, lợi nhuận hay thua lỗ chia đều cho nhau, Đồng Quảng Q đồng ý. Vương Xuân D và Đồng Quảng Q bàn bạc, thống nhất, Vương Xuân D là người thực hiện việc thuê, san lấp mặt bằng, xây dựng nhà xưởng, phòng làm việc, lắp đặt trạm điện...còn Đồng Quảng Q thực hiện việc mua, lắp đặt hệ thống máy móc sản xuất, chế biến lâm sản. Sau đó, Vương Xuân D ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với ông Ma Văn N1, sinh năm 1964 và bà Nông Thị N2, sinh năm 1968 cùng trú tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, chế biến lâm sản. Do không có giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh, không đủ điều kiện để lắp được trạm điện ba pha nên Vương Xuân D nhờ Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985, trú tại khối phố N, thị trấn B, huyện B, là người có Giấy chứng nhận kinh doanh, làm thủ tục lắp trạm điện ba pha cho Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản để Vương Xuân D sử dụng, phục vụ hoạt động sản xuất, chế biến lâm sản, Nguyễn Văn T1 đồng ý. Sau khi Vương Xuân D và Đồng Quảng Q thực hiện xong các công việc như thoả thuận, tổng chi phí xây dựng, mở Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là 3.600.000.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm triệu đồng), Vương Xuân D và Đồng Quảng Q mỗi người góp số tiền là 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng).

Tháng 6 năm 2022, Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản bắt đầu đi vào hoạt động, Vương Xuân D và Đồng Quảng Q thống nhất, Vương Xuân D là người điều hành hoạt động của Cơ sở, Đồng Quảng Q là người phụ trách việc bán sản phẩm dăm gỗ của cơ sở chế biến. Vương Xuân D thuê Hà Hương L1, sinh năm 1977, trú tại xóm N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên để giám sát, điều hành hoạt động sản xuất của cơ sở, mua nhập hàng hoá và trả tiền lương cho công nhân... Hà Hương L1 thuê Lộc Văn V, sinh năm 1972, trú tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn làm công nhân tại Cơ sở. Khi cần công nhân chế biến dăm gỗ, Hà Hương L1 gọi điện cho Lộc Văn V để Lộc Văn V liên hệ với Lộc Văn X sinh năm 1996, Hoàng Thị H1 sinh năm 1979, Lương Văn T2 sinh năm 1973, Lăng Thị N3 sinh năm 1968, Lăng Tuấn V1 sinh năm 1999, Lăng Thị D2 sinh năm 1982 cùng trú tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn cùng đến Cơ sở để làm thuê sản xuất chế biến dăm gỗ keo tươi. Vương Xuân D và Đồng Quảng Q thống nhất với Hà Hương L1 và Lộc Văn V là trả tiền nhân công theo khối lượng hàng hoá sản xuất chế biến được, cụ thể công nhân được trả 20.000 đồng/ 1 tấn dăm gỗ và 25.000 đồng/ 1 tấn rác; và thống nhất mỗi xe container được tính 35 tấn dăm gỗ, mỗi xe tải bốn chân được tính 30 tấn dăm gỗ và mỗi xe rác được tính 22 tấn rác (vỏ gỗ keo). Khi cơ sở sản xuất được một khối lượng dăm gỗ nhất định, thì Hà Hương L1 gọi điện thông báo cho Vương Xuân D để Vương Xuân D chỉ đạo lái xe tải đến cơ sở chở lấy dăm gỗ. Vương Xuân D sử dụng điện thoại di động, số thuê bao 0962.361.222 gọi điện cho lái xe là Đàm Văn Đ, sinh năm 1989 và Vũ Văn Đ1, sinh năm 1989 cùng trú tại xóm Đ, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên điều khiển xe ô tô tải đến Cơ sở để lấy dăm gỗ chở đi tiêu thụ. Vương Xuân D hoặc lái xe gọi điện cho Đ2 Q để Đồng Quảng Q gọi điện cho người đàn ông tên C, số điện thoại 0979.906.xxx thông báo là có xe dăm gỗ bán. Sau đó Đồng Quảng Q chỉ đạo lái xe chở dăm gỗ xuống cảng C, tỉnh Quảng Ninh để bán cho C. Sau khi bán, lái xe chụp ảnh phiếu cân thể hiện khối lượng dăm gỗ đã bán rồi gửi ảnh qua ứng dụng zalo cho Vương Xuân D và Đồng Quảng Q. Sau khi nhận được dăm gỗ, C thanh toán tiền cho Đồng Quảng Q bằng hình thức chuyển tiền vào số tài khoản 284704070005392 ngân hàng H3 của Đồng Quảng Q hoặc số tài khoản 284704070005393 ngân hàng H3 của Nguyễn Thị N, sinh năm 1991, trú tại xóm T, xã P, Tp P là vợ của Đồng Quảng Q. Các giao dịch thanh toán tiền hàng của C đều ghi nội dung “cong tt tien hang”. Khi nhận được tiền, Đồng Quảng Q tiếp tục chuyển tiền bán dăm gỗ từ

số tài khoản ngân hàng của Đồng Q và Nguyễn Thị N đến số tài khoản 0511029724047 ngân hàng A của Hoàng Thị H, sinh năm 1995, trú tại xóm T, xã P, Tp P, tỉnh Thái Nguyên, là vợ của Vương Xuân D hoặc đến số tài khoản 0511021261012 ngân hàng A của Vương Xuân D, cũng có lần Đồng Quảng Q đưa tiền mặt cho Vương Xuân D. Còn số rác (vỏ gỗ keo) thì Vương Xuân D gọi điện cho lái xe là Lý Văn H2, sinh năm 1990, trú tại xóm Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên điều khiển xe tải đến Cơ sở để chở rác xuống khu công nghiệp Đ, Tp B, tỉnh Bắc Ninh, bán cho các Cơ sở đốt lò hơi của nhà máy sản xuất giấy. Khi chở rác xuống khu công nghiệp Đ, lái xe gặp ai có nhu cầu mua rác thì bán cho người đấy, chứ không bán cho một mối cố định. Sau khi bán rác, lái xe trực tiếp lấy tiền mặt, cầm về đưa cho Vương Xuân D. Từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023, Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B đã sản xuất và bán được là 15.035 tấn (Mười lăm nghìn không trăm ba mươi lăm tấn) dăm gỗ, 572 tấn (Năm trăm bảy mươi hai tấn) rác (vỏ cây).

Vương Xuân D và Đồng Quảng Q cùng ghi chép, lữu giữ các khoản thu, chi liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở. Cuối tháng, Vương Xuân D và Đồng Quảng Q cùng nhau kiểm tra lại các khoản chi phí, số tiền bán hàng dăm, rác để tính toán số tiền lợi nhuận. Số tiền lợi nhuận từ việc sản xuất kinh doanh của cơ sở được chia đều cho Vương Xuân D và Đồng Quảng Q.

Trong quá trình quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản, Vương Xuân D và Đồng Quảng Q không làm thủ tục đăng ký kinh doanh, không kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/11/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 3274/QĐ-UBND về việc Kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn huyện B. Thực hiện Quyết định trên, ngày 27/12/2023, Đoàn kiểm tra liên ngành thuộc Ủy ban nhân dân huyện B tiến hành kiểm tra Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản có địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn như nội dung đã nêu ở trên.

Tiến hành kiểm tra các tờ “XEM PHIẾU CÂN” thu thập được trong máy tính tại cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản: Số liệu trên các phiếu cân thể hiện, từ 17/3/2023 đến 26/12/2013, Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản đã nhập 16.391.710 kg (Mười sáu triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm mười ki lô gam) hàng hoá là gỗ keo, trị giá 12.595.155.000 đồng (Mười hai tỷ năm trăm chín mươi năm triệu một trăm năm mươi năm nghìn đồng).

Quá trình xác minh, Lộc Văn V cung cấp cho Cơ quan điều tra bản phô tô sổ ghi chép số lượng xe dăm gỗ và rác mà Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản đã sản xuất chế biến được và chở đi tiêu thụ từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023. Căn cứ số liệu ghi chép trong sổ và lời khai của Lộc Văn V, Cơ quan điều tra xác định khối lượng hàng hoá mà Cơ sở sản xuất chế biến được, chở đi tiêu thụ từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023 là: 15.035 tấn (Mười lăm nghìn không trăm ba mươi lăm tấn) dăm gỗ, 572 tấn (Năm trăm bảy mươi hai tấn) rác, vỏ cây.

Xác minh tại Điện lực B: Lượng điện năng tiêu thụ của Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản có địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B từ ngày 01/3/2023 đến 26/12/2023 là 100.005 kWh. Hoàng Thị H là người chuyển khoản thanh toán tiền điện hàng tháng cho Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản. Người ký hợp đồng mua điện với Điện lực Bình Gia là ông Nguyễn Văn T1, địa chỉ thôn P, xã T, huyện B.

Xác minh tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh L và Phòng Tài chính kế hoạch huyện B, tỉnh Lạng Sơn xác định: Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn không đăng ký doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc địa điểm kinh doanh.

Xác minh tại Chi cục thuế khu vực I, Cục thuế tỉnh Lạng Sơn: Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản, địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn không đăng ký thuế, không kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực I, Cục thuế tỉnh L.

Ngày 08/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 172/QĐ-TCGĐ, trưng cầu Cục thuế tỉnh L giám định tư pháp trong lĩnh vực thuế để xác định số tiền thuế giá trị gia tăng mà Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản có địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B phải nộp ngân sách nhà nước. Ngày 12/3/2024, Cục thuế tỉnh L chỉ định, phân công Tổ giám định tư pháp gồm các giám định viên công tác tại Chi cục thuế khu vực I thực hiện giám định theo yêu cầu tại Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B. Tại Kết luận giám định số 1933/CCT-TGĐ ngày 16/5/2024 của Chi cục thuế khu vực I, Cục T kết luận: Số thuế phải nộp đối với sản lượng sản phẩm hàng hoá mà Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản đã sản xuất, chế biến chở đi tiêu thụ từ tháng 03/2023 đến tháng 12/2023 là 859.447.238 đồng (T3 trăm năm mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi tám đồng), trong đó thuế giá trị gia tăng là 572.964.825 đồng (Năm trăm bảy mươi hai triệu chín trăm sáu mươi tư nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng), thuế thu nhập cá nhân là 286.482.413 đồng (Hai trăm tám mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm mười ba đồng).

Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên, Chi cục thuế khu vực Đ3 - V, cục thuế tỉnh T cung cấp thông tin: Vương Xuân D có đăng ký thành lập Công ty TNHH S, địa chỉ trụ sở chính: Xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do Vương Xuân D làm Giám đốc, sản xuất kinh doanh mặt hàng dăm gỗ, rác... Trong quá trình công ty hoạt động, Vương Xuân D có thực hiện việc kê khai nộp thuế cho Nhà nước.

Sở kế hoạch và đầu tư thành phố H, Cục thuế thành phố H cung cấp thông tin: Đồng Quảng Quế có đăng ký thành lập Công ty TNHH C1, địa chỉ số B đường N, phường L, Quận L, thành phố Hải Phòng do Đồng Quảng Q làm giám đốc, sản xuất, kinh doanh dăm gỗ. Trong quá trình công ty hoạt động, Đồng Quảng Q có thực hiện việc kê khai nộp thuế cho Nhà nước.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

- Vương Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi Trốn thuế của bản thân. Vương Xuân D và Đồng Quảng Q mở, quản lý, điều hành Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên không làm thủ tục đăng ký kinh doanh, không đăng ký hồ sơ thuế, không kê khai và nộp thuế theo quy định. Do Vương Xuân D và Nguyễn Văn T1 có mối quan hệ từ trước nên Vương Xuân D đã nhờ Nguyễn Văn T1 làm thủ tục lắp trạm điện ba pha cho Cơ sở chế biến lâm sản của Vương Xuân D để sử dụng.

Vương Xuân D căn cứ vào sổ ghi chép số lượng xe của Lộc Văn V để trả tiền nhân công do đó Vương Xuân D đồng ý với khối lượng dăm gỗ và rác mà Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản đã sản xuất, bán được từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023 là 15.035 tấn (Mười lăm nghìn không trăm ba mươi lăm tấn) dăm gỗ, 572 tấn (Năm trăm bảy mươi hai tấn) rác (vỏ cây), tính khối lượng theo sổ ghi chép của Lộc Văn V. Đồng ý với nội dung kết luận giám định, số tiền thuế mà Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản phải nộp đối với khối lượng hàng hoá dăm gỗ và rác (vỏ cây) trên là 859.447.238 đồng (T3 trăm năm mươi chín triệu, bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Sau khi Đồng Q chuyển khoản tiền bán hàng vào số tài khoản 0511029724047 ngân hàng A của Hoàng Thị H, Vương Xuân D chỉ đạo Hoàng Thị H sử dụng số tài khoản trên để chuyển tiền thanh toán tiền điện, chuyển tiền cho Hà Hương L1 để mua nhập hàng, thanh toán tiền nhân công... Hoàng Thị H thực hiện việc chuyển tiền theo sự chỉ đạo của Vương Xuân D. Vương Xuân D còn sử dụng chung số tài khoản ngân hàng trên với Hoàng Thị H để thực hiện một số giao dịch liên quan đến hoạt động, sản xuất kinh doanh của cơ sở.

Quá trình quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản, Vương Xuân D không ghi các khoản thu, chi vào sổ mà chỉ ghi vào một tờ giấy. Đến cuối tháng, sau khi kiểm tra lại các khoản thu chi, tính toán chia số tiền lợi nhuận với Đồng Quảng Q xong, Vương Xuân D huỷ luôn tờ giấy đã ghi chép của tháng đó đi, không lưu giữ lại.

Số sổ sách thu giữ trong quá trình khám xét nhà Vương Xuân D là do Vương Xuân D chỉ đạo Hoàng Thị H lập lên để làm thủ tục vay ngân hàng, không liên quan đến hoạt động sản xuất của Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản của Vương Xuân D. Số sổ sách trên không còn giá trị sử dụng nên Vương Xuân D không có nhu cầu xin trả lại.

Tháng 10 năm 2023, Vương Xuân D có đăng ký Địa điểm kinh doanh số 01 - Công ty TNHH S, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên sau đó địa điểm kinh doanh này không hoạt động.

- Đồng Quảng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi Trốn thuế của bản thân. Đồng Q cùng Vương Xuân D mở, điều hành Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn tuy nhiên không làm thủ tục đăng ký kinh doanh, không đăng ký hồ sơ thuế, không kê khai và nộp thuế theo

quy định của pháp luật. Đồng Q thực hiện việc bán dăm gỗ cho người đàn ông tên C, địa chỉ tại B, Quảng Ninh; Không rõ họ, năm sinh và địa chỉ cụ thể, chỉ biết số điện thoại. Đồng Quảng Q bán hàng cho C không xuất hoá đơn, chứng từ. Ngoài sử dụng số tài khoản ngân hàng của bản thân, Đồng Quảng Q còn nhờ số tài khoản của vợ là Nguyễn Thị N để C chuyển khoản thanh toán tiền hàng. Sau khi nhận được tiền, Đồng Quảng Q chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của Hoàng Thị H hoặc có lần chuyển tiền cho Hà Hương L1 để mua nhập gỗ keo.

Sau khi bán dăm gỗ cho người đàn ông tên C, các lái xe gửi ảnh phiếu cân qua ứng dụng zalo cho Đồng Quảng Q, Đồng Quảng Q không ghi chép ra sổ sách mà đến cuối tháng Đồng Q xem lại các ảnh phiếu cân trong tin nhắn zalo để đối chiếu với Vương Xuân D, tính toán chia lợi nhuận. Chiếc điện thoại mà Đồng Quảng Q sử dụng để nhận các ảnh phiếu cân qua tin nhắn zalo, đã bị mất nên Đồng Quảng Q không còn lưu giữ hình ảnh các phiếu cân. Do Đồng Quảng Q và Vương Xuân D thống nhất trả tiền nhân công theo sổ ghi chép của công nhân nên Đồng Quảng Quế đồng ý với khối lượng dăm gỗ và rác mà Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản đã sản xuất, bán được từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023 là 15.035 tấn (Mười lăm nghìn không trăm ba mươi lăm tấn) dăm gỗ, 572 tấn (Năm trăm bảy mươi hai tấn) rác (vỏ cây), tính khối lượng theo sổ ghi chép của Lộc Văn V. Đồng Q cũng đồng ý với nội kết luận giám định, số tiền thuế mà Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản phải nộp đối với khối lượng hàng hoá dăm gỗ và rác (vỏ cây) trên là 859.447.238 đồng (T3 trăm năm mươi chín triệu, bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi tám nghìn đồng).

- H4 khai nhận: Cuối năm 2022, Vương Xuân D thuê H Lam làm bảo vệ, giám sát, điều hành hoạt động sản xuất tại Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Hà Hương L1 có nhiệm vụ nhập hàng hoá, liên hệ nhân công, điều hành nhân công chế biến dăm gỗ và thanh toán tiền nhân công. Hà Hương L1 thống nhất với Lộc Văn V trả tiền nhân công theo khối lượng hàng hoá mà công nhân sản xuất chế biến được. Lộc Văn V là người ghi chép số lượng xe dăm gỗ và rác mà Cơ sở sản xuất, chế biến được, chở đi tiêu thụ, còn Hà Hương L1 ghi chép số lượng xe vào một tờ giấy. Cuối tháng, Hà Hương L1 đối chiếu với sổ ghi chép của Lộc Văn V để trả tiền cho công nhân. Sau khi trả tiền cho công nhân, Hà Hương L1 huỷ tờ giấy đã đã ghi chép số lượng xe đi và sang tháng mới thì ghi chép vào tờ giấy khác. Hoàng Thị H và Đồng Quảng Q là người chuyển tiền vào số tài khoản 8504888261277 ngân hàng A1 của Hà Hương L1 để Hà Hương L mua gỗ keo, trả tiền nhân công, thanh toán tiền điện... Hàng ngày Hà Hương L nhập khối lượng gỗ keo mà Cơ sở đã mua để chế biến vào ứng dụng trên máy tính của Cơ sở (các phiếu cân). Ngày 27/12/2023, Đoàn kiểm tra liên ngành của Ủy ban nhân dân huyện B đã kiểm tra máy tính đồng thời in, thu giữ các phiếu cân lưu trong máy từ ngày 17/3/2023 đến 26/12/2023. Hà Hương L1 là người làm thuê, làm việc theo sự chỉ đạo của Vương Xuân D và Đồng Quảng Q, không biết việc trong quá trình quản lý điều hành Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản, Vương Xuân D và Đồng Quảng Q đã thực hiện hành vi trốn thuế.

- Lộc Văn V khai nhận: Lộc Văn V là người ghi chép số lượng các xe ô tô dăm gỗ và rác mà đội công nhân đã sản xuất, chế biến được chở đi tiêu thụ. Cuối tháng, Lộc Văn V và Hà Hương L1 kiểm tra đối chiếu số lượng xe để Hà Hương L thanh toán tiền nhân công. Sau đó Lộc Văn V thanh toán tiền nhân công cho các công nhân khác. Căn cứ vào số liệu ghi trong sổ, khối lượng dăm gỗ và rác mà Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản đã sản xuất, bán được từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023 là 15.035 tấn (Mười lăm nghìn không trăm ba mươi lăm tấn) dăm gỗ, 572 tấn (Năm trăm bảy mươi hai tấn) rác (vỏ cây). Khi làm việc với Cơ quan điều tra, do quyển sổ ghi chép nhiều nội dung liên quan đến công việc làm ăn nên Lộc Văn V đã cung cấp bản phô tô quyển sổ ghi chép thể hiện số lượng xe dăm gỗ và rác mà Cơ sở đã sản xuất chế biến được chở đi tiêu thụ. Lộc Văn V không biết việc Vương Xuân D và Đồng Quảng Q đã thực hiện hành vi trốn thuế.

- Lộc Văn X, Hoàng Thị H1, Lương Văn T2, Lăng Thị N3, Lăng Tuấn V1, Lăng Thị D2 đều khai nhận được thuê làm nhân công tại Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản có địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Khi cơ sở có nhu cầu chế biến dăm gỗ thì Lộc Văn V là người gọi mọi người đến cơ sở để làm thuê, nhiệm vụ là nhặt vỏ cây trên băng chuyền và đẩy gỗ keo vào hệ thống máy băm. Ông Lộc Văn V là người ghi chép sổ sách, đến cuối tháng Lộc Văn V là người trả tiền cho những nhân công làm thuê. Những nhân công còn cho biết, chủ cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản là Vương Xuân D, người quản lý là Hà Hương L1.

- Ma Văn N1 và Nông Thị N2 khai nhận: Vương Xuân D là người ký hợp đồng thuê đất với Ma Văn N1 và Nông Thị N2 để mở Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất được ký vào 6/2022, được chứng thực, chứng kiến của UBND xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

- Nguyễn Văn T1 khai nhận: Do có mối quan hệ biết từ trước nên khi được Vương Xuân D nhờ, Nguyễn Văn T1 đã đồng ý lấy Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mang tên Nguyễn Văn T1 để lắp trạm điện ba pha cho Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản của Vương Xuân D để Vương Xuân D sử dụng, bản thân Nguyễn Văn T1 không được hưởng lợi gì từ việc này. Nguyễn Văn T1 thực hiện làm thủ tục đề nghị Đ4 trạm điện ba pha theo đúng quy định của pháp luật. Nguyễn Văn T1 không liên quan gì đến Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản của Vương Xuân D, không biết Vương Xuân D đã thực hiện hành vi trốn thuế.

- Hoàng Thị H khai nhận: Hoàng Thị H sử dụng số tài khoản 0511029724047 của Hoàng Thị H để nhận tiền chuyển khoản tiền hàng của Đồng Quảng Q, sau đó Hoàng Thị H tiếp tục sử dụng số tài khoản để chuyển tiền cho Hà Hương L1 để Hà Hương L mua nhập gỗ keo, trả tiền nhân công, thanh toán tiền điện cho Cơ sở. Vương Xuân D cũng sử dụng số tài khoản của Hoàng Thị H để thực hiện một số giao dịch liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Cơ sở. Ngoài ra Hoàng Thị H còn sử dụng số tài khoản 8508205430390 ngân hàng A1 của Hoàng Thị H để thực hiện giao dịch thanh

toán tiền điện cho Cơ sở. Hoàng Thị H thực hiện các công việc trên theo sự chỉ đạo của Vương Xuân D, bản thân Hoàng Thị H không tham gia vào quá trình quản lý, điều hành hoạt động sản xuất của Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản của Vương Xuân D. Hoàng Thị H không biết việc Vương Xuân D và Đồng Quảng Q trong quá trình quản lý điều hành Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản đã thực hiện hành vi trốn thuế.

Số sổ sách thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Vương Xuân D là do Hoàng Thị H ghi chép theo sự chỉ đạo của Vương Xuân D để làm thủ tục vay ngân hàng. Hoàng Thị H không biết số sổ sách bị thu giữ có liên quan đến Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản hay không.

Chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP màu bạc, Model 15-eg309TU và điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng đồng số IMEI 358605072805553, bên trong không lắp sim điện thoại bị thu giữ tại nhà Vương Xuân D ngày 28/5/2024 là tài sản của Hoàng Thị H không liên quan đến Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản của Vương Xuân D.

- Nguyễn Thị N khai nhận: Đồng Q và Nguyễn Thị N đang quản lý, điều hành một Cơ sở chế biến lâm sản tại thôn T, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và cũng bán dăm gỗ cho người đàn ông tên C ở Quảng Ninh nên thỉnh thoảng Đồng Quảng Q có bảo C chuyển khoản thanh toán tiền hàng của Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản ở thôn P, xã T, huyện B vào số tài khoản 284704070005393 ngân hàng H3 của Nguyễn Thị N. Sau đó Đồng Quảng Q sử dụng luôn số tài khoản của Nguyễn Thị N để chuyển tiền hàng của Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản ở thôn P, xã T, huyện B vào số tài khoản của Hoàng Thị H. Ngoài ra Đồng Quảng Q còn bảo Nguyễn Thị N thực hiện các giao dịch theo yêu cầu của Đồng Quảng Q. Nguyễn Thị N không tham gia quản lý, điều hành Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản ở thôn P, xã T, huyện B; Nguyễn Thị N không biết việc Vương Xuân D và Đồng Quảng Q đã thực hiện hành vi trốn thuế.

- Vũ Văn Đ1, Đàm Văn Đ khai nhận: Vũ Văn Đ1 và Đàm Văn Đ là người lái xe thuê cho Vương Xuân D. Khi Vương Xuân D gọi điện thông báo có dăm gỗ cần chở đi bán, Vũ Văn Đ1 và Đàm Văn Đ điều khiển xe tải đến Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản địa chỉ thôn P, xã T, huyện B để lấy dăm gỗ chở đi bán ở Cảng C, Quảng Ninh. Vũ Văn Đ1, Đàm Văn Đ chở dăm gỗ xuống Cảng C có người đến đón nhận hàng, Vũ Văn Đ1, Đàm Văn Đ chụp, gửi hình ảnh phiếu cân qua ứng dựng zalo cho Vương Xuân D và Đồng Quảng Q. Hiện Vũ Văn Đ1, Đàm Văn Đ không còn lưu giữ ảnh phiếu cân và tin nhắn zalo. Vũ Văn Đ1 và Đàm Văn Đ chỉ là lái xe thuế, không biết việc Vương Xuân D và Đồng Quảng Q đã thực hiện hành vi trốn thuế.

- Lý Văn H2 khai nhận: Lý Văn H2 là người lái xe thuê cho Vương Xuân D, khi Vương Xuân D gọi điện thông báo có rác (vỏ gỗ keo) cần chở đi tiêu thụ thì Lý Văn H2 điều khiển xe tải đến Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản địa chỉ thôn P, xã T, huyện B để lấy rác chở xuống khu công nghiệp Đ, Tp B, tỉnh Bắc Ninh để bán cho các lò hơi của các nhà máy giấy. Đến khu công nghiệp Đ, Lý

Văn H2 gặp ai có nhu cầu mua rác thì bán cho người đấy, Lý Văn H2 không biết người đã mua rác là ai, địa chỉ ở đâu. Sau khi bán, Lý Văn H2 lấy tiền mặt cầm về đưa cho Vương Xuân D. Bản thân Lý Văn H2 không biết Vương Xuân D đã thực hiện hành vi trốn thuế.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 28/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Vương Xuân D về tội Trốn thuế quy định tại khoản 2, Điều 200 Bộ luật Hình sự. Ngày 07/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đồng Quảng Q về Trốn thuế quy định tại khoản 2, Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Đối với Hoàng Thị H và Nguyễn Thị N thực hiện một số công việc theo sự chỉ đạo của Vương Xuân D và Đồng Quảng Q; Bản thân Hoàng Thị H và Nguyễn Thị N không tham gia quản lý, điều hành Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản có địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; không biết việc Vương Xuân D và Đồng Quảng Q thực hiện hành vi trốn thuế. Do vậy không có căn cứ xử lý Hoàng Thị H và Nguyễn Thị N.

Đối với Hà Hương L1, Lộc Văn V và các đối tượng liên quan khác chỉ là người làm thuê, làm việc theo sự chỉ đạo của Vương Xuân D và Đồng Quảng Q, các đối tượng không biết việc Vương Xuân D và Đồng Quảng Q thực hiện hành vi trốn thuế do vậy cũng không có căn cứ để xử lý các đối tượng có liên quan.

Đối với người đàn ông tên “C”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B có công văn yêu cầu Tập đoàn V2, chi nhánh tỉnh L, cung cấp thông tin: Chủ thuê bao 0979906888 là Trần Văn T4, sinh ngày 17/7/1971, trú tại tổ C, khu E phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Xác minh tại Công an phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, xác định: Trần Văn T4, sinh ngày 17/7/1971, trú tại tổ C, khu E phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh không có mặt tại địa phương. Tại địa phương nơi cư trú, Trần Văn T4 còn được gọi với tên khác là “C”. Do vậy chưa có đủ căn cứ để làm rõ và xử lý trong vụ án này.

Đối hoạt động sản xuất của Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản từ tháng 6 năm 2022 đến tháng 2 năm 2023, Vương Xuân D, Đồng Quảng Q, Lộc Văn V và Hà Hương L1 đều không ghi chép, không lưu sổ sách liên quan đến hoạt động kinh doanh. Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được khối lượng và giá trị hàng hoá mua vào, bán ra của Cơ sở trong khoảng thời gian này, do vậy không có căn cứ trưng cầu giám định để xác định số tiền thuế mà Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản phải nộp cho Nhà nước trong khoảng thời gian trên.

Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKS-BG ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Vương Xuân D và Đồng Quảng Q về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

a) Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Vương Xuân D và Đồng Quảng Q phạm tội Trốn thuế.

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vương Xuân D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đồng Quảng Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

b) Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng đồng, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 357202092383695, IMEI 2: 357202092181081 (kiểm tra bằng cú pháp *#06# trên điện thoại) bên trong lắp 01 sim điện thoại của bị cáo Vương Xuân D sử dụng vào việc phạm tội;

- Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) quyển sổ, các quyển có kích thước 20,5x29,5 cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D; 12 (mười hai) quyển sổ, các quyển có kích thước 17x25cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D; 01 (một) quyển sổ có bìa màu đen, kích thước 10,3x15cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D do không còn giá trị sử dụng.

- Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Hoàng Thị H gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng đồng, số IMEI 358605072805553 và 01 (một) máy tính laptop nhãn hiệu HP màu bạc, Model 15-eg3091TU là tài sản thuộc quyền sở hữu của Hoàng Thị H, không liên quan đến vụ án.

c) Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho Nhà nước số tiền 859.447.238 đồng (T3 trăm năm mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi tám đồng). Ghi nhận bị cáo Vương Xuân D đã tự nguyện nộp

số tiền 429.723.000 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng) để khắc phục hậu quả, tiếp tục tạm giữ để nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo Đồng Quảng Q đã tự nguyện nộp số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, bị cáo Đồng Quảng Q còn phải nộp số tiền 289.724.619 đồng (Hai trăm tám mươi chín triệu bảy trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm mười chín đồng) để sung ngân sách nhà nước.

d) Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt và trong hồ sơ vụ án đã có đủ lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cùng các vật chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, cụ thể: Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023, Vương Xuân D và Đồng Quảng Q cùng điều hành Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn tuy nhiên không làm thủ tục đăng ký kinh doanh, không đăng ký hồ sơ thuế, không kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật. Tại bản Kết luận giám định số 1933/CCT-TGĐ ngày 16/5/2024 của Chi cục thuế khu vực I, Cục T kết luận: Số thuế phải nộp đối với sản lượng sản phẩm hàng hoá mà Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản đã sản xuất, chế biến chở đi tiêu thụ từ tháng 03/2023 đến tháng 12/2023 là 859.447.238 đồng (T3 trăm năm mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi tám đồng), trong đó thuế giá trị gia tăng là 572.964.825 đồng (Năm trăm bảy mươi hai triệu chín trăm sáu mươi tư nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng), thuế thu nhập cá nhân là 286.482.413 đồng (Hai trăm tám mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm mười

ba đồng). Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự, nên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực thuế của nhà nước, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, gây thất thu thuế trên địa bàn, do đó phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để góp phần phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Vương Xuân D ngày 26/4/2018, bị Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Mua bán lâm sản trái phép, xử phạt 15.000.000 đồng. Ngày 27/4/2018, bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo Đồng Quảng Q ngày 29/5/2019, bị Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại đến sức khoẻ của người khác, xử phạt 2.500.000 đồng. Ngày 03/6/2019, bị cáo đã chấp hành xong. Như vậy, các bị cáo đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính và đã chấp hành xong.

[6] Về tiền án, tiền sự: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngày 24/9/2024, bị cáo Vương Xuân D đã tự nguyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Gia nộp số tiền 429.723.000 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng) để khắc phục hậu quả. Do vậy, bị cáo Vương Xuân D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 10/12/2024, bị cáo Đồng Quảng Q đã tự nguyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Gia nộp số tiền 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng) để khắc phục hậu quả. Do vậy, bị cáo Đồng Quảng Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Đây là vụ án có hai bị cáo tham gia nhưng hành vi của các bị cáo mang tính chất giản đơn nên khi xem xét, quyết định hình phạt cần phân tích đánh giá vị trí, vai trò của của từng bị cáo để cá thể hóa mức hình phạt cho phù hợp: Bị cáo Vương Xuân D và Đồng Quảng Q cùng mở Cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, cùng ghi chép, lữu giữ các khoản thu, chi liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở. Cuối tháng, Vương Xuân D và Đồng Quảng Q cùng nhau kiểm tra lại các khoản chi phí, số tiền bán hàng dăm, rác để tính toán số tiền lợi nhuận. Số tiền lợi nhuận từ việc sản xuất kinh doanh của cơ sở được chia đều cho Vương Xuân D và Đồng Quảng Q. Do đó, hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án này.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho Nhà nước số tiền 859.447.238 đồng (T3 trăm năm mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi tám đồng). Ghi nhận bị cáo Vương Xuân D đã tự nguyện nộp số tiền 429.723.000 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng) để khắc phục hậu quả, tiếp tục tạm giữ để nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo Đồng Quảng Q đã tự nguyện nộp số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, bị cáo Đồng Quảng Q còn phải nộp số tiền 289.724.619 đồng (Hai trăm tám mươi chín triệu bảy trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm mười chín đồng) để sung ngân sách nhà nước.

[10] Từ những phân tích trên, xét thấy, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Trong quá trình điều tra xác định các bị cáo có nơi cư trú ổn định, lý lịch rõ ràng, đã tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2023/NQ-HĐTP ngày 15/4/2023 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, thấy không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.

[11] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản riêng, cũng không đảm nhiệm chức vụ gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ.

[12] Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng đồng, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 357202092383695, IMEI 2: 357202092181081 (kiểm tra bằng cú pháp *#06# trên điện thoại) bên trong lắp 01 sim điện thoại của bị cáo Vương Xuân D sử dụng vào việc phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) quyển sổ, các quyển có kích thước 20,5x29,5 cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D; 12 (mười hai) quyển sổ, các quyển có kích thước 17x25cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D; 01 (một) quyển sổ có bìa màu đen, kích thước 10,3x15cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D do không còn giá

trị sử dụng. Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Hoàng Thị H gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng đồng, số IMEI 358605072805553 và 01 (một) máy tính laptop nhãn hiệu HP màu bạc, Model 15-eg3091TU là tài sản thuộc quyền sở hữu của Hoàng Thị H, không liên quan đến vụ án.

[13] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14] Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và đều nhận tội như Cáo trạng đã truy tố, lời nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

[15] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[16] Các bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 200; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vương Xuân D;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 200; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đồng Quảng Q;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135; Điều 136; Điều 262; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vương Xuân D và Đồng Quảng Q phạm tội “Trốn thuế”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Vương Xuân D 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Đồng Quảng Q 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bị cáo Vương Xuân D đã nộp số tiền 429.723.000 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng) theo biên lai số 0003551 ngày 24/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn để sung ngân sách Nhà nước.

Ghi nhận bị cáo Đồng Quảng Q đã nộp số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng) theo biên lai số 0003567 ngày 10/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo Đồng Quảng Q còn phải nộp số tiền 289.724.619 đồng (Hai trăm tám mươi chín triệu bảy trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm mười chín đồng) để sung ngân sách nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng đồng, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 357202092383695, IMEI 2: 357202092181081 (kiểm tra bằng cú pháp *#06# trên điện thoại) bên trong lắp 01 sim điện thoại của bị cáo Vương Xuân D.

Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) quyển sổ, các quyển có kích thước 20,5x29,5 cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D; 12 (mười hai) quyển sổ, các quyển có kích thước 17x25cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D; 01 (một) quyển sổ có bìa màu đen, kích thước 10,3x15cm, bên trong sổ có ghi chép các chữ và số, tại các trang có ghi chép nội dung đều có chữ ký và tên của Vương Xuân D.

Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Hoàng Thị H gồm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng đồng, số IMEI 358605072805553 và 01 (một) máy tính laptop nhãn hiệu HP màu bạc, Model 15-eg3091TU là tài sản thuộc quyền sở hữu của Hoàng Thị H.

5. Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia;
  • - Công an huyện Bình Gia;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia;
  • - Các bị cáo;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về trốn thuế

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023, Vương Xuân D và Đồng Quảng Q cùng điều hành Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn tuy nhiên không làm thủ tục đăng ký kinh doanh, không đăng ký hồ sơ thuế, không kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật. Tại bản Kết luận giám định số 1933/CCT-TGĐ ngày 16/5/2024 của Chi cục thuế khu vực IV, Cục thuế Lạng Sơn kết luận: Số thuế phải nộp đối với sản lượng sản phẩm hàng hoá mà Cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản đã sản xuất, chế biến chở đi tiêu thụ từ tháng 03/2023 đến tháng 12/2023 là 859.447.238 đồng (Tám trăm năm mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi tám đồng), trong đó thuế giá trị gia tăng là 572.964.825 đồng (Năm trăm bảy mươi hai triệu chín trăm sáu mươi tư nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng), thuế thu nhập cá nhân là 286.482.413 đồng (Hai trăm tám mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm mười ba đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger