|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 15-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thao
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hồng
Ông Hoàng Văn Khiếu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Luyện - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 15-10-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/QĐXXST-HS ngày 01-11-2024 đối với các bị cáo:
1-Lương Văn Đ, Tên gọi khác: không; sinh ngày 07-02-2005, tại huyện L, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn L, sinh năm 1981, con bà: Hoàng Thị B, sinh năm 1979; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21-3-2024. Có mặt tại phiên tòa.
2-Nguyễn T, T gọi khác: không; sinh ngày 12-05-1989, tại Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Việt H, sinh năm 1962, con bà: Hà Thị B1 (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
3-Đinh Thọ C, Tên gọi khác: không; sinh ngày 26-01-1984, tại Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Thọ L1 (đã chết), con bà: Đinh Thị L2, sinh năm 1960; Vợ là: Hoàng Hải Y, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Có 03 con: con
lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
4-Phạm Ngọc Q, Tên gọi khác: không; sinh ngày 28-4-2001, tại Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn L3, sinh năm 1981, con bà: Lộc Thị L4 (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
5-Hoàng Đức Q1, Tên gọi khác: không; sinh ngày 08-01-1999, tại Yên Bái; Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn C1 (đã chết), con bà: Đinh Thị T1, sinh năm 1979; Vợ là Tăng Thị Lan O, sinh năm 2003; Có 01 con sinh năm 2024; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
6-Nguyễn Văn Công, T gọi khác: không; sinh ngày 17-01-1990, tại Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1969, con bà: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1966; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trần Hoài N, sinh năm 1995. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ B Khu I, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ B Khu I, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
- + Anh Trần Văn S, sinh năm 1989. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ B, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái. Vắng
- + Anh Nguyễn Phúc C2, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ B, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1993. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ B Khu H, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- + Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1988. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Phòng A, tập thể V, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- + Anh Trần Tùng D, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ B Khu I, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
- + Chị Nguyễn Thị Hải Y1, sinh năm 1999. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 20-11-2023, Trần Hoài N cùng Trần Tùng D, Nguyễn Thị Hải Y1, Nguyễn Ngọc T4 đến hát tại quán K1 thuộc tổ A, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái. Đến khoảng 23 giờ 40 phút, nhóm của Trần Hoài N nghỉ hát, N gọi điện cho Nguyễn Trường G điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 14A-745.61 của N đến để đón cả nhóm. Trong quá trình thanh toán tiền hát, Phạm Ngọc Q là nhân viên quán hát đã xảy ra mâu thuẫn với nhóm của N vì nhóm của N cho rằng quán tính tiền hát đắt. Tuy nhiên nhóm của N vẫn thanh toán xong tiền hát rồi ra xe đi về nhưng sau đó lại quay trở lại quán hát. Thấy quan hát đã đóng cửa, Nguyễn Ngọc T4 đã đạp vào cửa quán yêu cầu Q mở cửa để nói chuyện nhưng Q không mở của nên nhóm N bỏ đi. Sau đó Q gọi điện cho Nguyễn Trung K nói về việc nhóm của N đạp cửa quán. Sau khi nghe điện thoại của Q, K cùng Nguyễn Văn C3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21C1-224.52 đến quán K1. Đến nơi sau khi biết nhóm của N đã rời đi, K đi vào khu vực lễ tân lấy 01 con dao (dạng dao phay) rồi điều khiển xe mô tô chở C3 đi tìm nhóm của N. Thấy vậy Phạm Ngọc Q cầm theo 01 gậy gỗ, Lương Văn Đ cầm theo 01 gậy kim loại rồi Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21CA-023.68 chở Đ đi theo xe của K để tìm nhóm của N.
Lúc này Hoàng Đức Q1 và Đinh Thọ C đang ăn đồ nướng tại khu vực cổng Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện L thấy nhóm của K đi qua có mang theo hung khí nên Q1 đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29F1-307.18 chở C đuổi theo nhóm của K và cùng nhóm của K đi tìm nhóm của N. Thấy Đ và Q mang theo gậy nên K đã nói với những người khác “bọn mày không được đánh, để anh nói chuyện”. Đến khoảng 0 giờ 10 phút ngày 21-11-2023, khi cả nhóm đang đứng ở ngã tư H thuộc tổ E thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái thì phát hiện xe ô tô của N đi qua ngã tư rẽ vào đường T. K chỉ tay hô “nó kia kìa” rồi điều khiển xe mô tô một mình đuổi theo, Q1 điều khiển xe mô tô chở C, Q đưa gậy gỗ cho C3 cầm rồi điều khiển xe mô tô chở C3 và Đ đi theo sau. Đến khu vực cổng Ủy ban nhân dân huyện L thuộc tổ D thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, Q1 điều khiển xe mô tô vượt lên phía trước chặn đầu xe ô tô của N và yêu cầu nhóm của N xuống xe để nói chuyện. Lúc này Nguyễn Trường G điều khiển xe ô tô tiến lên phía trước nên đã va chạm với xe mô tô của Q1 làm xe mô tô bị đổ ra đường. Thấy vậy Đ cầm gậy kim loại đập một nhát vào kính chắn gió phía sau xe ô tô làm nứt, vỡ hoàn toàn kính chắn gió, sau đó Đẹp vòng qua sườn xe bên phải đập một nhát vào ốp bánh xe phía trước làm ốp bánh xe bị xước và lõm vào trong. Nhóm của K tiếp tục chửi, đe doạ nhóm của N. C giật gậy từ tay Đ, Q1 giật gậy từ tay C3 đe doạ và yêu cầu nhóm N xuống xe nói chuyện. Q1 mở được cửa lái
định kéo G xuống nhưng không được nên cầm gậy vụt về phía chân G nhưng không trúng. Lúc này thấy có xe ô tô đi đến, nhóm của K cho rằng nhóm của N gọi thêm người đến nên đã bỏ chạy.
Qua điều tra, Lương Văn Đ, Nguyễn Trung K, Phạm Ngọc Q, Hoàng Đức Q1, Đinh Thọ C, Nguyễn Văn C3 đều thừa nhận hành vi như đã nêu trên.
Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát 14A-745.61 nhãn hiệu Huyndai Santafe; 01 xe mô tô biển kiểm soát 21CA-023.68; 01 xe mô tô biển kiểm soát 21C1-224.52; 01 xe mô tô biển kiểm soát 29F1- 307.18; 01 dao kim loại chuôi dao bằng gỗ có tổng chiều dài 54 cm; 01 gậy kim loại (gậy bóng chày).
Tại bản kết luận định giá số: 22/KL-HĐĐG ngày 23-11-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:
- - Tấm kính chắn gió phía sau xe ô tô BKS: 14A-745.61 nhãn hiệu HUYNDAI loại xe SANTAFE sản xuất năm 2022 được mua mới ngày 12-01-2023 tại thời điểm định giá có giá trị 7.452.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn đồng).
- - Vết xước và lõm có kích thước (10x6)cm tại vị trí bên trên mặt ốp chắn bánh xe phía trước bên phải xe ô tô BKS: 14A-745.61 nhãn hiệu HUYNDAI loại xe SANTAFE sản xuất năm 2022 được mua mới ngày 12-01-2023 tại thời điểm định giá có giá trị thiệt hại là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Cáo trạng số: 33/CT-VKS-LY ngày 14-10-2024 của Viện kiểm sát nhân huyện L, tỉnh Yên Bái truy tố Lương Văn Đ về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Truy tố Nguyễn Trung K, Phạm Ngọc Q, Hoàng Đức Q1, Đinh Thọ C, Nguyễn Văn C3 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn C3 Phạm Ngọc Q, Đinh Thọ C, Hoàng Đức Q1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Về hình phạt:
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”
- Căn cứ điểm khoản 1 Điều 178; điểm b,h,s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lương Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai tội.
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K: từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo và án định thời gian thử thách theo quy định.
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C3: từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và án định thời gian thử thách theo quy định.
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q: từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và án định thời gian thử thách theo quy định.
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức Q1: từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và án định thời gian thử thách theo quy định.
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s,t, khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đinh Thọ C: từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và án định thời gian thử thách theo quy định.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 29F1- 307.18 kiểu dáng Dream, sơn màu xanh đã quan sử dụng.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 dao kim loại chuôi dao bằng gỗ có tổng chiều dài 54 cm, lưỡi dao bản rộng 7cm; 01 gậy kim loại có tổng chiều dài 76 cm, đường kính 05 cm.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn C3, Hoàng Đức Q1, Đinh Thọ C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đề nghị miễn nộp tiền án phí đối với bị cáo Lương Văn Đ, Phạm Ngọc Q.
Các bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các vật chứng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 21-11-2023 trên đường T thuộc tổ D, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, Lương Văn Đ, Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn C3, Phạm Ngọc Q, Hoàng Đức Q1, Định Thọ C4 đã có hành vi tụ tập mang theo hung khí và sử dụng hung khí để đuổi theo chặn xe ô tô của anh Trần Hoài N. Các bị cáo đã có hành chửi, đe doạ anh N và những người đi cùng. Lương Văn Đ đã sử dụng gậy kim loại đập vào xe ô tô làm hư hỏng xe ô tô của anh N với tổng giá trị thiệt hại là 8.452.000 đồng.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, tổ chức trước khi thực hiện tội phạm, cáo bị cáo đều là người thực hành và trực tiếp thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Đối với Hành vi “cố ý làm hư hỏng tài sản” của Lương Văn Đ, đây là hành vi vượt quá của bị cáo Đ nên bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi này, các bị cáo khác không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của bị cáo Đ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự nơi công cộng được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của xã hội và sự ổn định đời sống của nhân dân, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng tại địa phương. Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác của bị cáo Lương Văn Đ còn xâm phạm đến quyền về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó cần phải đưa các bị cáo ra xử lý trước pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều là người có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo do đó xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lương Văn Đ đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; phạm tội nhưng gậy thiệt hại không lớn nên còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn C3, Phạm Ngọc Q, Hoàng Đức Q1 đã tích cực giúp đỡ, cứu trợ nhân dân và tài sản của người dân khi xảy ra lũ lụt trong cơn bão số 3 tại xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái và đã được UBND xã M xác nhận. Do đó xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo Đinh Thọ C tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đã tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra trong việc phát hiện phạm tội theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do từ tin báo của bị cáo, cơ quan điều tra đã khởi tố bị can đối với Ngôn Văn D1 về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Bị cáo Lương Văn Đ đã thực hiện hai hành vi tội phạm, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật và tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo được bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn C3, Phạm Ngọc Q, Hoàng Đức Q1, Đinh Thọ C đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự tạo điều kiện cho các bị cáo được hưởng án treo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 29F1- 307.18 kiểu dáng Dream sơn màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hoàng Đức Q1. Xét thấy đây là phương tiện, công cụ phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 dao kim loại, chuôi bằng gỗ có tổng chiều dài 54cm, lưỡi dao bản rộng nhất 7cm; 01 gậy kim loại (gậy bóng chày) tổng chiều dài 76cm, đường kính 5cm, chuôi được cuốn băng dính màu đen. Xét thấy đây là phương tiện, công cụ phạm tội nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 gậy gỗ hình trụ màu vàng nhạt, dài khoảng 60cm. Qua điều tra xác định Hoàng Đức Q1 đã vứt tại khu vực ngã tư H thuộc tổ E thị trán Y, huyện L, tỉnh Yên Bái. Cơ quan điều tra đã tìm kiếm nhưng không có kết quả nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 14A-745.61 nhãn hiệu Huydai Santafe màu đen. Xét thấy đây là tài sản sở hữu hợp pháp của anh Trần Hoài N nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với 01 mô tô biển kiểm soát 21CA- 023.68 và 01 mô tô biển kiểm soát 21C1 – 224.52. Xét thấy đây là tài sản sở hữu hợp pháp của anh Trần Văn S, anh S không biết các bị cáo dùng để thực hiện tội phạm nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị cáo Lương Văn Đ đã bồi thường cho bị hại là anh Trần Hoài N số tiền là 60.000.000 đồng. Anh N không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với việc anh Nguyễn Ngọc T4 dùng chân đạp vào cửa quan hát Karaoke Trang A, chủ quán là anh Trần Văn S và anh Nguyễn Phúc C2 đều xác định không bị hư hỏng, thiệt hại gì và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với việc anh Nguyễn Trường G điều khiển xe ô tô đâm đổ xe mô tô của Hoàng Đức Q1, bị cáo Q1 không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn C3, Đinh Thọ C, Hoàng Đức Q1 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo Lương Văn Đ, Phạm Ngọc Q thuộc hộ cận nghèo, hộ nghèo nên được miễn nộp tiền án phí theo đề nghị của các bị cáo.
[9] Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn C3, Phạm Ngọc Q, Hoàng Đức Q1, Đinh Thọ C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”
- Căn cứ điểm khoản 1 Điều 178; điểm b,h,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ: 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lương Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21-3-2024.
2.2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Trung K cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2.3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C3: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Văn C3 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2.4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Phạm Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2.5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức Q1: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Hoàng Đức Q1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2.6. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s,t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đinh Thọ C: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Đinh Thọ C cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 29F1- 307.18 kiểu dáng Dream sơn màu xanh đã qua sử dụng.
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 dao kim loại, chuôi bằng gỗ có tổng chiều dài 54cm, lưỡi dao bản rộng nhất 7cm; 01 gậy kim loại (gậy bóng chày) tổng chiều dài 76cm, đường kính 5cm, chuôi được cuốn băng dính màu đen.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 12, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn C3, Hoàng Đức Q1, Đinh Thọ C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Lương Văn Đ, Phạm Ngọc Q được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Thao |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI về vụ án hình sự: gây rối trật tự công cộng và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Gây rối trật tự công cộng và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trận tự công công; Cố ý làm hư hỏng tài sản
