Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG KHÊ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Đồng và ông Lê Anh Hùng.

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

· Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thuần Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/HSST, ngày 23/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS, ngày 11/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình A; tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/3/1991; quê quán: Xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình H và bà Nguyễn Thị T; anh chị em ruột: Có 04 người (bị cáo là con thứ nhất); vợ: Trần Thị H1; con: một đứa 08 tuổi; chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 23/7/2020 TAND thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 208/2020/HSST; ngày 30/9/2020 TAND huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 10 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 23/2020/HSST (bản án không xác định Nguyễn Đình A tái phạm do hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 23/7/2020); ngày 23/3/2021 TAND thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 21 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 17/2021/HSST, tổng hợp hình phạt với bản án số 23/2020/HSST TAND huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lăk và bản án số 208/2020/HSST ngày 23/72020 TAND thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắk Lắk, buộc Nguyễn Đinh A1 phải chấp hành 04 năm 07 tháng tù, A1 chấp hành xong hình phạt vào ngày 10/12/2023, hiện chưa được xóa án tích (bản án không xác định Nguyễn Đình A tái phạm do hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 23/7/2020); nhân thân: Ngày 28/8/2008 TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 49/2008/HSST chấp hành xong, đã xóa án tích; ngày 24/9/2008 TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm tù tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 47/2008/HSST chấp hành xong, đã xóa án tích; ngày 30/12/2010 TAND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 565/2010/HSST chấp hành xong, đã xóa án tích; ngày 27/12/2011 TAND thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 49/2011/HSST chấp hành xong, đã xóa án tích; ngày 23/02/2015 Công an huyện H xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích theo Quyết định số 34/QĐ-XPVPHC chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 11/5/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Trương Anh T1, sinh năm: 1980; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

+ Chị Trương Thị H2, sinh năm: 1988; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

+ Anh Phan Đình H3, sinh năm: 1964; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

+ Bà Phạm Thị Kim D, sinh năm: 1968; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Phan Thị Khánh L, sinh năm: 1981; địa chỉ: Khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng Phú Nguyễn H4. Vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Quốc Y, sinh năm: 1982; địa chỉ: Xóm F, xã P, huyện H; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 30/4/2024, Nguyễn Đình A đón xe khách đi từ thành phố Hà Nội đến huyện H. Sáng ngày 01/5/2024 sau khi đến thị trấn H, A đi bộ dọc theo tuyến đường Quốc lộ 15 tìm nhà nào sơ hở để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi qua nhà ông Phan Đình H3 tại tổ dân phố A, thị trấn H thì A phát hiện trong nhà không có người nên đi vòng ra phía sau, cạy cửa phòng bếp rồi đột nhập vào bên trong nhà để tìm tài sản lấy trộm. Khi vào phòng ngủ, A thấy có 01 chiếc két sắt nên lấy 01 con dao bằng sắt ở khu vực nhà bếp cạy mở két, do không có tài sản gì bên trong két nên A đi ra theo lối đã đi vào. Khi qua bàn ăn ở phòng bếp, A thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s màu đen để trên bàn nên lấy cất vào túi rồi rời khỏi nhà. Sau đó A bắt xe bus đi về thành phố H. Khi đến ngã ba P, A xuống xe rồi đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại của anh Nguyễn Quốc Y ở xóm F, xã P, huyện H bán chiếc điện thoại vừa lấy trộm được với giá 300.000 đồng rồi tiếp tục bắt xe bus để về thành phố H.

Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi xe bus đi ngang qua nhà anh Trương Anh T1, trú tại thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, A nhìn thấy cổng khóa bên ngoài nên xuống xe rồi đi bộ đến trước cổng nhà. Quan sát xung quanh thấy không có ai nên A trèo tường vào nhà để tìm tài sản trộm cắp, thấy các phòng đều bị khóa nên A đi đến khu vực phía sau nhà lấy 01 chiếc cuốc sắt cạy cửa phòng ngủ, do không tìm được tài sản có giá trị trong phòng ngủ nên A tiếp tục dùng chiếc cuốc sắt cạy khóa phòng bếp, A đi vào phòng bếp rồi tiếp tục đi vào phòng ngủ cạnh đó. Khi vào phòng, thấy có 01 chiếc két sắt nên A đi ra khu vực phía sau nhà lấy 01 con dao bằng sắt để mở két. Sau đó A sử dụng con dao và chiếc cuốc cạy mở cửa két, A tìm kiếm bên trong thấy ở ngăn phía trên của két có 04 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 100 USD; 02 nhẫn vàng, hình tròn, loại 9999, khối lượng mỗi nhẫn 01 chỉ; 01 nhẫn vàng, hình tròn, loại 24k, khối lượng 01 chỉ và một số giấy tờ, sổ sách. A cất số tiền 400 USD vào ví, cất 03 nhẫn vàng vào túi quần rồi rời khỏi nhà anh T1 theo lối vừa đột nhập, sau đó bắt xe bus đi thành phố H. Khi đi đến khu vực cầu vượt thuộc Thành phố H, A xuống xe rồi bắt xe khách đi thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, A đến cửa hàng V1 ở phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An bán số tiền 400 USD cho chị Phan Thị Khánh L (là nhân viên cửa hàng) với giá 10.040.000 đồng (2.040.000 đồng tiền mặt và 8.000.000 đồng chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng B của chị L đến tài khoản ngân hàng V2 số 9566670086 của A). Đến 23h cùng ngày, A đón xe khách đi ra thành phố Hà Nội bán số vàng lấy trộm ở một tiệm vàng (không rõ địa chỉ) được khoảng 15.000.000 đồng. Số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản A sử dụng chi tiêu cá nhân.

Sau khi phát hiện tài sản bị mất trộm, anh Trương Anh T1 và ông Phan Đình H3 trình báo đến lực lượng chức năng. Ngày 11/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H áp dụng biện pháp điều tra, xác định Nguyễn Đình A là người lấy trộm tài sản nên tiến hành truy tìm và phát hiện A ở tiệm V3 tại phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An thành phố V, tỉnh Nghệ An nên đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thu giữ trên người Nguyễn Đình A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2043, 04 chiếc nhẫn màu vàng, 01 chiếc vòng đeo cổ màu vàng. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình A thu giữ được 01 chiếc áo phông cổ tròn. Nguyễn Đình A thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và trình bày 04 chiếc nhẫn vàng, 01 chiếc vòng đeo cổ màu vàng là do mình nhặt được ở thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 10/5/2024, chiếc áo phông cổ tròn là chiếc áo A mặc trong quá trình trộm cắp tài sản tại nhà anh Trương An T2. Ngày 16/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Đình A về hành vi trộm cắp tài sản xảy ra hồi 12h00 ngày 01/5/2024 tại xã H, huyện H. Đến ngày 01/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án về hành vi trộm cắp tài sản xảy ra hồi 07h15 ngày 01/5/2024 tại thị trấn H, huyện H (do phải xác minh tiền án đối với Nguyễn Đình A), sau đó nhập vụ án để điều tra.

Ngày 16/5/2024, Phòng KTHS Công an tỉnh H có Kết luận giám định số 702/KL-KTHS, kết luận: 04 tờ tiền gửi đến giám định là loại tiền giấy mệnh giá 100 đô la ($100) thuộc hệ thống tiền tệ Hoa Kỳ, là tiền thật. Ngày 16/5/2025, Ngân hàng N Chi nhánh H5 có văn bản 375/NHNN-HTI4 thể hiện tỉ giá áp dụng từ ngày 29/4/2024 đến ngày 01/5/2024 là 1 Đô La M (USD) = 24.246 Đồng Việt Nam; ngày 11/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H có Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG, kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A3s, màu đen, đã qua sử dụng có giá trị 300.000 đồng”; ngày 05/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H có Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG, kết luận: “02 (hai) chiếc nhẫn vàng, hình tròn, khối lượng 2 chỉ (mỗi chiếc nhẫn khối lượng 01 chỉ), loại vàng 9999, do Công ty Cổ phần V4 sản xuất, được mua mới và bắt đầu sử dụng từ năm 2020 có giá trị 14.966.666 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn vàng, hình tròn, khối lượng 1 chỉ, loại vàng 18K, do Công ty Cổ phần V4 sản xuất, được mua mới và bắt đầu sử dụng từ năm 2014 có giá trị 5.056.667 đồng. Tổng giá trị tài sản là 20.023.333 đồng”. Còn 01 chiếc két sắt kích thước (0,9x0,42x0,5)m, đã qua sử dụng; 01 chiếc cuốc bằng sắt, phần cán dạng ống có chiều dài 1,5m, đường kính 0.033m, phần lưỡi kích thước (0,21x0,1)m, đã qua sử dụng; 01 con dao bằng sắt, loại dao rựa mồng, dài 0,4m, đã qua sử dụng (anh Trương Anh T1 giao nộp) không yêu cầu định giá, không yêu cầu xem xét.

* Vật chứng vụ án: 01 chiếc máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A3s, màu đen, đã qua sử dụng (anh Nguyễn Quốc Y giao nộp); 04 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 100 Đô la Mỹ (chị Phan Thị Khánh L giao nộp); 01 chiếc két sắt kích thước (0,9x0,42x0,5)m, đã qua sử dụng; 01 chiếc cuốc bằng sắt, phần cán dạng ống có chiều dài 1,5m, đường kính 0.033m, phần lưỡi kích thước (0,21x0,1)m, đã qua sử dụng; 01 con dao bằng sắt, loại dao rựa mồng, dài 0,4m, đã qua sử dụng (anh Trương Anh T1 giap nộp); 01 chiếc áo phông cổ tròn, màu trắng sẫm, hiệu "Sao Viet Sport”, size XL (thu của Nguyễn Đình A khi khám xét khẩn cấp); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại V2043, màu xanh dương; 01 chiếc thẻ sim điện thoại di động của Nhà mạng Vietnammobile, có số seri 89840509231326846151; 01 chiếc nhẫn tròn, màu vàng (nghi là V), bên trong mặt nhẫn có khắc chữ “KIM THANH HUY 9999”, đã qua sử dụng; 02 chiếc nhẫn tròn, màu vàng (nghi là V), bên trong mặt nhẫn có khắc chữ “KIM THANH HUY 9999 1C” đã qua sử dụng; 01 chiếc nhẫn tròn, màu vàng (nghi là V), được khắc mặt ngoài hình trái tim, khắc chữ “L”, bên trong mặt nhẫn có khắc chữ “KIM THANH HUY 9999 1C” đã qua sử dụng; 01 chiếc vòng đeo cổ, màu vàng (nghi là V), phần móc để treo được khắc chữ “HUY 9999” đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Đình A khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp).

Hiện nay, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A3s cho ông Phan Đình H3; trả lại 04 tờ 100 Đô la Mỹ, 01 chiếc két sắt, 01 chiếc cuốc sắt, 01 con dao sắt cho anh Trương Anh T1; Còn đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại V2043; 01 chiếc thẻ sim điện thoại di động của Nhà mạng Vietnammobile, có số seri 89840509231326846151; 01 chiếc áo phông cổ tròn, màu trắng sẫm, hiệu “Sao Viet Sport”, các vật chứng trên được chuyển đến chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; Riêng 04 nhẫn tròn màu vàng, 01 vòng đeo cổ màu vàng (nghi là V), Nguyễn Đình A trình bày nhặt được ở thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 10/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu số 372/TB-ĐCSHS ngày 05/7/2024 nhưng đến nay chưa có kết quả nên đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu số 445/QĐ-ĐCSHS ngày 07/8/2024 để tiếp tục xác minh, giải quyết; Đối với số nhẫn vàng bị can Nguyễn Đình A lấy trộm của bị hại Trương Anh T1, A trình bày bán tại một tiệm vàng ở Hà Nội, do không xác minh được địa chỉ cụ thể nên không thu hồi được.

* Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trương Anh T1 yêu cầu bồi thường số tiền 20.023.333 đồng (tương ứng giá trị của số nhẫn vàng mà A đã lấy trộm). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Khánh L1 yêu cầu bồi thường số tiền 10.040.000 đồng là số tiền chị L1 đã trả tiền để mua lại số tiền 400 Đô la Mỹ do bị can Nguyễn Đình A trộm cắp mà có, hiện An chưa tiến hành bồi thường; Bị hại ông Phan Đình H3 đã nhận lại được tài sản bị mất trộm, không yêu cầu về phần dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quốc Y không yêu cầu bồi thường số tiền 300.000 đồng Y đã bỏ ra để mua lại chiếc điện thoại di động do bị can Nguyễn Đình A trộm cắp mà có.

Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKS-HS, ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Đình A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, xử:

- Trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình A mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/5/2024.

- Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải bồi thường cho bị hại anh Trương Anh T1 số tiền 20.023.333 đồng; cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Khánh L2 số tiền 10.040.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quốc Y không yêu cầu bị cáo A phải bồi thường nên đề nghị miễn xét.

- Vật chứng vụ án: Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại V2043 và số tiền 300.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Đình A; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông cổ tròn, màu trắng sẫm, hiệu “Sao Viet Sport” và 01 chiếc thẻ sim điện thoại di động của Nhà mạng Vietnammobile, có số seri 89840509231326846151 đã sử dụng đều thu của Nguyễn Đình A là vật liên quan đến tội phạm và không có giá trị sử dụng;

- Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.503.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại thừa nhận nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố tại phiên tòa hôm nay là đúng và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Thủ tục tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều Tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Người tham gia tố tụng: Bị hại bà Phạm Thị Kim D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị Khánh L và anh Nguyễn Quốc Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo, bị hại và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử, xét thấy sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Tình tiết định tội, định khung, tính chất mức độ hành vi phạm tội: - Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đình A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại hồ sơ vụ án; phù hợp với đơn trình báo, lời khai bị hại; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đặc điểm tài sản bị mất trộm; phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định Nguyễn Đình A (đang có tiền án về tội Trộm cắp tài sản) đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể: Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 01/5/2024 Nguyễn Đình A đã đột nhập vào nhà của nhà ông Phan Đình H3 tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H lấy trộm của ông H3 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s có giá trị 300.000 đồng; tiếp đó, đến khoảng 12 giờ cùng ngày Nguyễn Đình A đột nhập vào nhà anh Trương Anh T1 ở thôn A, xã H, huyện H cạy két sắt lấy trộm của anh T1 04 tờ 100 Đô la Mỹ, tương ứng 9.698.400 đồng; 02 chiếc nhẫn vàng loại vàng 9999 trị giá 14.966.666 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng loại vàng 18K trị giá 5.056.667 đồng; tổng giá trị tài sản A lấy trộm của anh T1 là 29.721.733 đồng. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Đình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn đúng người đúng tội không có gì oan sai.

- Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người thiếu ý thức rèn luyện đạo đức lối sống, ham chơi, thích hưởng thụ nhưng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân lại không muốn bỏ sức lao động mà bằng con đường bất chính, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra, hành vi đó của các bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người và trong quần chúng nhân dân, vì vậy cần xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng, nhân thân, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Đình A đang đang có tiền án về “Trộm cắp tài sản”, hiện đã chấp hành xong hình phạt chính, nhưng chưa được xóa án tích; trong ngày 01/5/2024 bị cáo A đã thực hiện 2 vụ lấy trộm tài sản của người khác vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm” quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có 05 nhân thân xấu, nhưng bị cáo không coi đây là bài học kinh nghiệm cho bản thân mà ngựa quen đường cũ vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần.

[5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Đình A không có nghề nghiệp ổn định nên xem xét miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

[6] Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Đình A phải bồi thường thiệt hại tài sản trộm cắp, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo A thống nhất bồi thường cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468, các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải bồi thường cho bị hại anh Trương Anh T1 số tiền 20.023.333 đồng; cho người có quyề lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn K Lý số tiền 10.040.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quốc Y không yêu cầu bị cáo A phải bồi thường gì nên miễn xét.

[7] Các hành vi khác: - Trong vụ án này có Anh Nguyễn Quốc Y là người đã mua lại chiếc điện thoại di động do Nguyễn Đình A lấy trộm được của anh Phan Đình H3, chị Nguyễn Thị Khánh L3 là người đã mua lại số tiền 400 USD do Nguyễn Đình A lấy trộm được của anh Trương Anh T1, do anh Y và chị L3 không biết được những tài sản trên do Nguyễn Đình A trộm cắp mà có. Cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh không có căn cứ xử lý, Viện kiểm sát không truy tố nên miễn xét.

- Đối với 02 chiếc két sắt và các chiếc cửa của anh Trương Anh T1 và ông Phan Đình H3 do Nguyễn Đình A cạy mở khóa, do các đồ vật này đã cũ, không còn giá trị nên anh T1 và ông H3 không yêu cầu định giá và bồi thường thiệt hại.

[8] Vật chứng vụ án, gồm: - Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A3s cho ông Phan Đình H3; trả lại 04 tờ 100 Đô la Mỹ, 01 chiếc két sắt, 01 chiếc cuốc sắt, 01 con dao sắt cho anh Trương Anh T1, các vật chứng này Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện H đã xử lý đúng quy định pháp luật nên miễn xét.

- Đối với 04 nhẫn tròn màu vàng, 01 vòng đeo cổ màu vàng (nghi là V), Nguyễn Đình A trình bày nhặt được ở thành phố T, tỉnh Thanh Hóa ngày 10/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu số 372/TB-ĐCSHS ngày 05/7/2024 nhưng đến nay chưa có kết quả nên đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu số 445/QĐ-ĐCSHS ngày 07/8/2024 để tiếp tục xác minh, giải quyết nên miễn xét.

- Đối với số nhẫn vàng bị can Nguyễn Đình A lấy trộm của bị hại Trương Anh T1, bị cáo A trình bày bán tại một tiệm vàng ở Hà Nội, do không xác minh được địa chỉ cụ thể nên không thu hồi được nên miễn xét.

- Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại V2043 và số tiền 300.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Đình A; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông cổ tròn, màu trắng sẫm, hiệu “Sao Viet Sport” và 01 chiếc thẻ sim điện thoại di động của Nhà mạng Vietnammobile, có số seri 89840509231326846151 đều thu của Nguyễn Đình A là vật liên quan đến tội phạm và không có giá trị sử dụng;

[9] Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.503.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm đề nghị xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định Hội đồng xét xử và đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Điều luật: Căn cứ khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 38, các điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468, các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, các khoản 1, 3 Điều 21, các điểm a, c khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

* Tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình A 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 11 tháng 5 năm 2024.

* Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải bồi thường cho bị hại anh Trương Anh T1 số tiền 20.023.333 đồng; cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Khánh L2 số tiền 10.040.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án thì bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

* Vật chứng vụ án: + Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại V2043;

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng ở bị cáo Nguyễn Đình A;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông cổ tròn, màu trắng sẫm, hiệu “Sao Viet Sport” đã sử dụng và 01 chiếc thẻ sim điện thoại di động của Nhà mạng Vietnammobile, có số seri 89840509231326846151 đã sử dụng.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê và CQCSĐT Công an huyện H).

* Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.503.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh
  • - VKSND huyện Hương Khê;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh
  • - Công an h. Hương Khê;
  • - Cơ quan THAHS Công an h. Hương Khê;
  • - Chi cục THADS huyện Hương Khê;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan;
  • - UBND xã Hưng Nam Yên; - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger