Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS - ST

Ngày: 19/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.

+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và ông Mai Văn Chất

+ Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 08/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với bị cáo:

Phan Văn H, sinh năm 1962; Tên gọi khác: Không; Giới tính: nam; Nơi ĐKHKT và cư trú: xóm A, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tôn giáo: công giáo; Trình độ học vấn: 6/12.

Bố đẻ: Phan Văn N, sinh năm: 1910 (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị P, sinh năm: 1930 (Đã chết); Gia đình có có 6 chị, em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Vũ Thị M, sinh năm: 1966. Con: có 2 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ 15/12/2023 đến ngày 21/12/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2001; Cư trú tại: xóm G, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt ).

+ Anh Đỗ Văn S, sinh năm 1981; Cư trú tại: xóm A, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt ).

+ Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1988; Cư trú tại: xóm E, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt ).

1

+ Anh Trần Văn H1, sinh năm 1990; Cư trú tại: xóm F, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( có mặt ).

- Người chứng kiến:

+ Anh Đặng Văn H2, sinh năm 1991 Cư trú tại: xóm E, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt ).

+ Bà Vũ Thị M, sinh năm 1966; Cư trú tại: xóm A, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt ).

+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960 Cư trú tại: xóm F, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu sài cá nhân và sử dụng ma túy nên Phan Văn H nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Buổi trưa ngày 14/12/2023 H điều khiển xe mô tô BKS: 86B5 - 10374 đi từ nhà đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm G, xã Â, huyện K. Tại đây H gặp và mua được của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine được gói ngoài bằng giấy màu trắng, có chữ in màu đen với giá 500.000 đồng. Sau khi về nhà H lấy một phần của gói ma tuý ra sử dụng. Phần còn lại H chia thành 02 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy trắng có chữ in màu đen và 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nilong màu hồng rồi cất giấu trong người với mục đích sử dụng và ai hỏi mua sẽ bán lại kiếm lời. Trong các ngày 14/12 và 15/12/2023, H đã bán ma tuý cho Nguyễn Văn T, sinh năm 2001, trú tại xóm G, xã T, huyện K. Cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Buổi tối ngày 14/12/2023, TĐỗ Văn S, sinh năm 1981, trú tại xóm A, xã Â, huyện K rủ nhau mỗi người góp 100.000đồng mua ma tuý về sử dụng. Sau đó T gọi điện cho Phan Văn H hỏi mua 200.000 đồng ma tuý, loại Heroine. H đồng ý và hẹn gặp T tại khu vực đường D, xã Â, huyện K. Sau đó H điều khiển xe mô tô BKS: 86B5 - 10374, TS thuê xe ôm đi đến điểm hẹn. Khoảng 21 giờ cùng ngày, cả ba đến nơi. Lúc này T đến gặp H còn S đứng trong ngõ cách vị trí của T khoảng 3m. Do đã trả 30.000 đồng tiền xe ôm nên T thoả thuận và được H đồng ý bán cho gói ma tuý loại Heroine được gói ngoài bằng giấy trắng, có chữ in màu đen với giá 170.000 đồng. Sau đó TS mang gói ma tuý mua được đi chia nhau sử dụng hết. Số tiền 170.000 đồng bán ma tuý, H đã tiêu xài cá nhân.

- Lần thứ hai: Buổi sáng ngày 15/12/2023 TS tiếp tục rủ nhau góp tiền mua 500.000 đồng ma tuý (T góp 300.000 đồng, S góp 200.000 đồng). Sau đó T gọi điện thì H đồng ý bán ma tuý cho và hẹn đến địa điểm cũ. Sau đó H điều khiển xe mô tô BKS: 86B5 - 10374 đi. Khoảng 9 giờ 40 phút cùng ngày, TS gặp nhau tại điểm hẹn. Lúc này do S không vay được tiền nên cả hai thống nhất ngồi chờ H để trả lời

2

không mua ma tuý nữa. Hồi 9 giờ 45 phút cùng ngày, H mang ma tuý đến điểm hẹn. Khi hai bên chưa kịp mua bán ma tuý thì bị Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang.

Thu giữ của Phan Văn H trên tay trái 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy nilong màu hồng, kích thước (1,5x1) cm; thu giữ trong túi quần trước bên trái 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy trắng, có chữ in màu đen, kích thước (3x3)cm mang theo nhằm mục đích sử dụng và bán cho người khác. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen lắp sim số 0946279204; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI màu xám, đen, vàng mang BKS: 86B5 – 10374 và số tiền 200.000 đồng. Thu giữ của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen lắp sim số 0972763502 và số tiền 300.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Văn H, Cơ quan CSĐT Công an huyện K không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong gói nhỏ gói ngoài là giấy nilong màu hồng có khối lượng là 0,16 gam, ký hiệu M1; chất bột dạng cục màu trắng có trong gói nhỏ gói ngoài bằng giấy trắng, có chữ in màu đen có khối lượng là 0,06 gam ký hiệu M2. Đồng thời tiến hành gửi các mẫu M1, M2 đi trưng cầu giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 26/KL-KTHS-MT ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1587 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0589 gam. Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong hai mẫu ký hiệu M1, M2 là 0,2176 gam. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma tuý loại Heroine."

Qua trình điều tra Công an huyện K đã trả xe mô tô BKS: 86B5 - 10374 cho anh Trần Văn H1; trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen lắp sim số 0972763502 cho anh Nguyễn Văn L; trả lại số tiền 300.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T. Chuyển số tiền 200.000 đồng từ tài khoản của Công an huyện K đến tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện K từ kho vật chứng Công an huyện K đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Sơn các vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong ghi số 26/KL-KTHS-MT bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định M1 = 0,0951 gam Heroine, M2 = 0,02 gam Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 vỏ phong bì, 01 mảnh giấy nilong màu hồng, 01 mảnh giấy trắng có hoa văn và 01 mảnh giấy có chữ in màu đen; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen lắp sim số 0946279204 thu giữ của Phan Văn H; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT2"; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T1”; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T2” để giải quyết cùng vụ án.

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKS-KS ngày 7/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm b, Khoản 2, Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

3

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố trong cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Phan Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
  • - Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 và Điều 136 BLHS năm 2015 và Nghị quyết 326/UBTVQH14:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 26/KL-KTHS-MT bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định M1 = 0,0951 gam Heroine, M2 = 0,02 gam Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 vỏ phong bì, 01 mảnh giấy nilong màu hồng, 01 mảnh giấy trắng có hoa văn và 01 mảnh giấy có chữ in màu đen; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT2"; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T1”; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T2”.
    • + Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen lắp sim số 0946279204 của bị cáo sung Ngân sách Nhà nước.
    • + Truy thu từ bị cáo số tiền 170.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
    • + Trả lại cho bị cáo H số tiền 200.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.
    • + Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến bào chữa, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án Tòa án đã tóm tắt nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện K lập hồi 10 giờ 20 phút ngày 15/12/2023 tại trụ sở công an xã Â, phù hợp với lời khai của người liên quan, lời khai của người chứng kiến.

Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng vật chứng là 02 gói ma tuý thu giữ của bị cáo. Tại Bản kết luận giám định số 26/KL-KTHS-MT ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1587 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0589 gam. Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong hai mẫu ký hiệu M1, M2 là 0,2176 gam. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma tuý loại Heroine."

4

Căn cứ vào các chứng cứ đã được viện dẫn nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 14/12/2023 tại khu vực đường D, xã Â, huyện K, Phan Văn H có hành vi bán 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 170.000 đồng cho Nguyễn Văn T. Hồi 9 giờ 45 phút ngày 15/12/2023 cũng tại địa điểm trên, H đang mang theo người 01 gói ma tuý, loại Heroine có khối lượng 0,1587 gam để bán cho T với giá 500.000 đồng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra Phan Văn H còn có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,0589 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân và bán cho người khác nhằm thu lời bất chính. Hành vi của Phan Văn H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại Điểm b, Khoản 2, Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: ....

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

Căn cứ hành vi của bị cáo Phan Văn H Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Sơn truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “phạm tội từ 02 lần trở lên” tội phạm và hình phạt được quy định điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng tính chất mức độ phạm tội.

[2] Về hình phạt đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và còn là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác; hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo khi bị phát hiện hành vi bán ma túy lần 2 đã tự khai nhận hành vi bán ma túy lần trước chưa bị phát hiện được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ Người phạm tội tự thú” quy định tại diểm r khoản 1 Điều 51 BLHS. Bản thân bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được xác nhận của chính quyền địa phương, có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích.

5

Bị cáo Phan Văn H nhà thuộc đối tượng cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo.

[3] Đối với hành vi của Nguyễn Văn TĐỗ Văn S thoả thuận góp tiền chung để T gọi điện mua ma tuý của H vào ngày 15/12/2023. Sau đó do không có đủ tiền nên cả hai thống nhất không mua ma tuý nữa trước khi H bị bắt quả tang. Ngoài ra ngày 14/12/2023 TS có hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” mua của H nhưng không nhớ địa điểm cụ thể, Cơ quan điều tra không thu được công cụ, phương tiện cả hai sử dụng ma tuý. Cơ quan điều tra đã nhắc nhở, rút kinh nghiệm và thông báo đến chính quyền nơi cư trú quản lý, giáo dục đối với TS.

[4] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho H tại khu vực nghĩa trang thuộc xóm G, xã Â, huyện K. Do H không biết tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được người này nếu gặp lại nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K không đủ cơ sở để điều tra, xác minh để xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô BKS: 86B5 - 10374 qua trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Trần Văn H1 là con rể bị cáo. Anh H1 không biết việc bị cáo mượn xe mô tô để đi bán ma túy, anh H1 đã nhận lại xe và không có đề nghị gì. Việc cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên là đúng quy định; Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen lắp sim số 0972763502, điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn L. Nguyễn Văn T mượn của anh L và không biết việc T sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma tuý nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho anh L. Việc trả lại là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T, điều tra xác định được đây là tài sản riêng của T nhưng do T không sử dụng để mua ma tuý nữa nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã trả lại. T đã nhận lại tiền và không có ý kiến gì. Việc trả lại là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối với số tiền 200.000 thu giữ của bị cáo, điều tra xác định được đây là tài sản riêng của không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 170.000 đồng do bán ma tuý mà có, bị cáo H đã tiêu xài cá nhân hết, cần truy thu để sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen lắp sim số 0946279204 thu giữ của Phan Văn H. Điện thoại bị cáo dùng liên lạc để mua bán ma túy với T cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước

Đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 26/KL-KTHS-MT bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định M1 = 0,0951 gam Heroine, M2 = 0,02 gam Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 vỏ phong bì, 01 mảnh giấy nilong màu hồng, 01 mảnh giấy trắng có hoa văn và 01

6

mảnh giấy có chữ in màu đen; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT2”; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T1”; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T2”. Đây là những vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện K; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

2. Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 05(năm ) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.

3. Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 26/KL-KTHS-MT bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định M1 = 0,0951 gam Heroine, M2 = 0,02 gam Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 vỏ phong bì, 01 mảnh giấy nilong màu hồng, 01 mảnh giấy trắng có hoa văn và 01 mảnh giấy có chữ in màu đen; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT2"; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T1”; 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu “T2”.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen có lắp sim số 0946279204.
  • - Trả lại cho bị cáo H số tiền 200.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo Thi hành án.
  • - Truy thu từ bị cáo H số tiền 170.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Chi tiết vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa công an huyện K và chi cục Thi hành án Dân sự huyện K ngày 08/5/2024.

4. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

7

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện K;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Công an huyện K;
  • - Bị cáo; người liên quan
  • - Lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thế Anh

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS - ST ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 31/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán MT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger