Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 15/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Định và bà Lý Thúy Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST- HS ngày 02/4/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Bá H

  • Sinh ngày 27/9/1980 tại thành phố T;
  • Cư trú tại: Thôn B, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
  • Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
  • Trình độ văn hóa: 12/12;
  • Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH Đ (Trụ sở tại số F, đường L, tổ dân phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang);
  • Con ông Nguyễn Bá T (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1954;
  • Có vợ là Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1990 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2023);
  • Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
  • Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã K, thành phố T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị Thanh H1; sinh năm 1991;

Cư trú tại: Tổ dân phố I, phường H, thành phố T. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh La Văn B, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1974; trú tại: Tổ dân phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2019 bà Vũ Thị Thanh H3 trú tại tổ dân phố I, phường H, thành phố T được mẹ là bà Nguyễn Thị M1 (cùng địa chỉ) tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất số 52, tờ bản đồ số 29, diện tích 180,2m², địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố I, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CM 918853 (Số vào sổ cấp: CH 001886) ngày 04/10/2019 mang tên bà Vũ Thị Thanh H3. Tháng 12/2022, bà H3 chết không để lại di chúc, bà Nguyễn Thị M1 muốn chuyển quyền sử dụng đất thửa đất trên cho chị Trần Thị Thanh H1 là con gái của bà H3, cùng trú tại tổ dân phố I, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Do H1 biết bị cáo Nguyễn Bá H là Giám đốc Công ty TNHH Đ, chuyên hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, hỗ trợ thủ tục pháp lý liên quan đến lĩnh vực bất động sản nên cuối tháng 7/2023 chị H1 thuê bị cáo H bằng hình thức thỏa thuận miệng để bị cáo H tư vấn, hỗ trợ thủ tục pháp lý về việc được quyền thừa kế đối với thửa đất mà bà H3 để lại với tiền công 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Sau đó, chị H1 cung cấp các hồ sơ, giấy tờ liên quan đến thửa đất, và danh sách người thừa kế tài sản cho bị cáo H để làm thủ tục.

Sau khi kiểm tra hồ sơ do chị H1 đưa, Nguyễn Bá H thấy ông Trần Minh K, trú tại tổ dân phố I, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (là chồng bà H3, còn sống), ông K nằm trong hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản thừa kế do bà H3 chết để lại. Để H1 được nhận toàn bộ quyền thừa kế di sản do bà H3 để lại thì các các cá nhân trong hàng thừa kế phải ký biên bản thỏa thuận từ chối nhận di sản. Do biết thông tin ông K thường xuyên không có mặt tại địa phương và gia đình có mâu thuẫn, ông K không nhất trí ký biên bản thỏa thuận từ chối nhận di sản nên H nảy sinh ý định đặt mua giấy khai tử giả đối với ông K để làm thủ tục cho H1 nhận thừa kế. Ngoài ra ông K có bố là ông Trần Minh G và mẹ là Nguyễn Thị N, cùng trú tại tổ dân phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang hiện đang còn sống, do vậy bị cáo H nảy sinh ý định mua thêm giấy khai tử giả đối với ông G, bà N để mang đến Văn phòng công chứng làm thủ tục cho H1 nhận thừa kế.

Trong thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 9/2023, Nguyễn Bá H đã 02 lần có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, cụ thể như sau:

Lần 1: Cuối tháng 7/2023, bị cáo H truy cập mạng internet để tìm người làm giấy tờ giả thì thấy một trang web quảng cáo nhận làm các loại giấy tờ và có thông tin số điện thoại liên hệ (bị cáo H không nhớ tên trang web và số điện thoại). H sử dụng điện thoại di dộng nhãn hiệu Galaxy S21 Ultra của bị cáo H truy cập mạng xã hội Z tìm theo số điện thoại ghi trên quảng cáo thì liên lạc được với người sử dụng tài khoản Zalo “Anh Q”, bị cáo trao đổi, cung cấp thông tin và đặt mua 03 trích lục khai tử giả đối với ông Trần Minh K, Trần Minh G và bà Nguyễn Thị N với giá 6.000.000 đồng.

Ngày 25/7/2023, bị cáo chuyển số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng số 0964897389 của bị cáo mở tại Ngân hàng TMCP Q2 đến tài khoản ngân hàng S1 mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 BIDV, đăng ký thông tin 'Trần Văn L, trú tại H, T, Đồng Nai" để đặt cọc, số tiền còn lại sẽ thanh toán khi nhận hàng.

Sau khi đặt giấy tờ giả, ngày 29/7/2023, bị cáo H nhận từ anh Hoàng Văn T1, trú tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (là nhân viên giao hàng của Công ty G2) 01 hộp giấy bên trong có 03 bản Trích lục khai tử giả số 56/2022/TLKT ngày 23/3/2022 đối với ông Trần Minh G, đơn vị cấp là Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T; số 65/2022/TLKT ngày 05/6/2022 đối với bà Nguyễn Thị N, đơn vị cấp là Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang và số 76/TLKT ngày 03/5/2023 đối với ông Trần Minh K, đơn vị cấp là Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (anh T1 không biết bên trong là giấy tờ giả). Bị cáo H kiểm tra thấy đúng là 03 bản trích lục khai tử giả đã đặt mua nên thanh toán tiền cho T1 bằng cách chuyển khoản số tiền 3.710.000 đồng từ tài khoản ngân hàng số 0964897389 của bị cáo mở tại Ngân hàng Q2 đến tài khoản ngân hàng số [...] của T1 mở tại Ngân hàng TMCP C1 và trả thêm 300.000 đồng tiền mặt.

Sau khi nhận được 03 bản trích lục khai tử giả, bị cáo giao cho anh La Văn B; trú tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (là nhân viên trong công ty của bị cáo) cầm 03 giấy khai tử giả trên và các tài liệu liên quan đến nộp tại Văn phòng C2, địa chỉ tổ dân phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang để làm thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản (B và Công chứng viên tiếp nhận không biết 03 bản trích lục khai tử trên là giả).

Lần 2: Sau khi nhận được 03 bản trích lục khai tử giả trên, ngày 02/8/2023 và ngày 24/8/2023, Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thu H2 ban hành bản "Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K" và giao lại cho anh La Văn B để niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường H. Anh B giao lại bản thông báo niêm yết trên cho bị cáo H2 thì bị cáo thấy nếu sử dụng bản thông báo niêm yết đến niêm yết tại UBND phường H thì hành vi sử dụng 03 bản trích lục khai tử giả của ông K, G và bà N sẽ bị phát hiện nên bị cáo tiếp tục liên hệ và cung cấp thông tin cho người sử dụng tài khoản Zalo “Anh Q” đặt mua 01 bản "Thông báo niêm yết giả về việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K" giả do Văn phòng C2 Nguyễn Thị Thu H2 ban hành, có xác nhận và đóng dấu đỏ của Ủy ban nhân dân phường H với giá 2.500.000 đồng. Ngày 30/8/2023, bị cáo chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng số 0964897389 của bị cáo mở tại Ngân hàng TMCP Q2 đến tài khoản ngân hàng S1 đăng ký thông tin 'Trần Văn L, trú tại H, T, Đồng Nai" mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 B1 để đặt cọc.

Ngày 16/9/2023, bị cáo nhận từ anh Lương Ngọc H4, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T (là nhân viên giao hàng của Công ty G2) 01 bản "Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K" đề ngày 24/8/2023 của Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thu H2. Sau khi kiểm tra thông tin đúng là bản thông báo giả mình đã đặt mua, bị cáo thanh toán tiền cho nhân viên giao hàng bằng cách chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng số 0964897389 của bị cáo mở tại Ngân hàng Q2 đến tài khoản ngân hàng số [...] mang tên Lương Ngọc H4 mở tại Ngân hàng TMCP C1.

Ngày 18/9/2023, bị cáo giao cho anh La Văn B cầm bản thông báo niêm yết giả về việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K trên đến nộp tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thu H2 để làm thủ tục thừa kế. Quá trình tiếp nhận hồ sơ, phát hiện tài liệu do anh La Văn B nộp ngày 18/9/2023 có dấu hiệu làm giả nên ngày 20/9/2023, bà Nguyễn Thị Thu H2 trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để giải quyết.

Ngoài việc sử dụng các tài liệu giả nêu trên, bị cáo Nguyễn Bá H còn mua của người sử dụng tài khoản Zalo "Anh Q" 01 bản Thông báo niêm yết giả về việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 84/TBNY-VPCC ngày 24/7/2023 của Văn phòng C2, địa chỉ tổ dân phố B, phường Ỷ, thành phố T với giá 2.500.000đồng. Tuy nhiên, sau khi mua được bản thông báo niêm yết giả nêu trên, bị cáo chưa sử dụng để nộp cho cá nhân, tổ chức nào. Quá trình điều tra, bị cáo H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Tại bản Kết luận giám định số 1356/GĐ-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • - Chữ ký cuối trang 1, 2, 3 trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 với chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Thu H2 trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một người ký.
  • - Chữ ký mang tên Nguyễn Thị Thu H2 dưới mục “TRƯỞNG VĂN PHÒNG” trên mẫu cần gám định ký hiệu Al với chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Thu H2 trên mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một người ký.
  • - Chữ ký mang tên Lê Việt A dưới mục “Xác nhận của UBND xã, phường” trên mẫu cần giám định A1, dưới mục “NGƯỜI TRÍCH LỤC” trên mẫu giám định ký hiệu A2 với chữ ký đứng tên Lê Việt A trên mẫu so sánh ký hiệu M7 không phải do cùng một người ký.
  • - Hình dấu tròn nội dung “TP TUYÊN QUANG - T. TUYÊN QUANG ✩ S.Đ.K.H.Đ: 08-C.T.H.Ð ✩ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN THỊ THU HIỀN” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 với hình dấu tròn nội dung “TP. TUYÊN QUANG - T. TUYÊN QUANG ✩ S.Đ.K.H.Đ: 08-C.T.H.Ð ✩ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN THỊ THU HIỀN” trên mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG HƯNG THÀNH THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG T. TUYÊN QUANG” trên mẫu cần giám định ký hiệu Al với hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG HƯNG THÀNH TP. TUYÊN QUANG T. TUYÊN QUANG” trên mẫu so sánh ký hiệu M8 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG HƯNG THÀNH TP TUYÊN QUANG T. TUYÊN QUANG” trên mẫu cần giám định A2 với hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG HƯNG THÀNH TP. TUYÊN QUANG T. TUYÊN QUANG” trên mẫu so sánh ký hiệu M8 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Chữ ký đứng tên Nguyễn Mạnh C dưới mục “NGƯỜI KÝ TRÍCH LỤC” trên mẫu cần giám định A3, A4 với chữ ký đứng tên Nguyễn Mạnh C trên mẫu so sánh ký hiệu M9 không phải do cùng một người ký.
  • - Hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG PHAN THIẾT T.P TUYÊN QUANG T. TUYÊN QUANG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A3, A4 với hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG PHAN THIẾT T.P TUYÊN QUANG T. TUYÊN QUANG” trên mẫu so sánh ký hiệu M10 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Chữ ký tại cuối các trang, chữ ký đứng tên Ma Thị S dưới mục “CÔNG CHỨNG VIÊN” trên mẫu giám định ký hiệu A5 với chữ ký đứng tên Ma Thị S trên mẫu so sánh ký hiệu M4, M5 không phải do cùng một người ký.
  • - Chữ ký đứng tên Nguyễn Mạnh D dưới mục “T.M U - CHỦ TỊCH” trên mẫu cần giám định ký hiệu A5 với chữ ký đứng tên Nguyễn Mạnh D trên mẫu so sánh ký hiệu M11 không phải do cùng một người ký.
  • - Hình dấu tròn nội dung “TP. TUYÊN QUANG - T. TUYÊN QUANG ✩ S.Đ.K.H.Ð: 15-C.T.H.Ð ✩ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG MAI THỊ SÁCH” trên mẫu cần giám định ký hiệu A5 với hình dấu tròn nội dung “TP . - T. TUYÊN QUANG ☆ S.Đ.K.H.Ð ☆ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG MA THỊ SÁCH” trên mẫu so sánh ký hiệu M6 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG THÁI BÌNH THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG T. TUYÊN QUANG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A5 với hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D XÃ THÁI BÌNH H. YÊN SƠN T. TUYÊN QUANG” trên mẫu so sánh ký hiệu M12 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSTP ngày 27 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá H về tội: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 341 Bộ luật hình sự

Kết thúc phần tranh tụng tại phiên toà, đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Bá H và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, khoản 2, khoản 4, Điều 341; điểm s, v khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá Hiền t 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm đến 04 năm 06 tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Galaxy S21 Ultra 5G, số sêri: R3CR607TG7L, IMEI: 352412373859454, màu bạc, loại màn hình cảm ứng.

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án gồm:

  • + 01 (một) Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 02/8/2023 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 (Bản do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 phát hành giao cho H2).
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 56/2022/TLKT ngày 23/03/2022 của Ủy ban nhân dân phường P (là tài liệu giả).
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 65/2022/TLKT ngày 05/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường P (là tài liệu giả).
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 76/TLKT ngày 03/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường H (là tài liệu giả).
  • + 01 (một) Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản và thỏa thuận phân chia di sản số 84/TBNY-VPCC đề ngày 24/7/2023 của Văn phòng C2 (là tài liệu giả).
  • + 01 Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 24/8/2023 của Văn phòng C2 Nguyễn Thị Thu H2 (là tài liệu giả).
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 56/2022/TLKT ngày 23/03/2022 của Ủy ban nhân dân phường P.
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 65/2022/TLKT ngày 05/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường P.
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 76/TLKT ngày 03/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường H.
  • - Trả lại các tài liệu cho bà Nguyễn Thị Thu H2 các tài liệu sau:
  • + 01 Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 24/8/2023 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 (Do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 phát hành lưu tại văn phòng).
  • + 01 bản gốc Văn bản từ chối nhận di sản lập ngày 03/8/2023 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thu H2 được Công chứng viên Nguyễn Thị Thu H2 chứng nhận.
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 57/TLKT ngày 12/12/2022 của Ủy ban nhân dân phường H.
  • + 01 bản phô tô Giấy khai sinh số 216 mang tên Trần Thị Thanh H1.
  • + 01 bản phô tô Giấy khai sinh số 67 ngày 15/8/2001, người ký Giấy là Hoàng Văn Q1 - Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân phường H.
  • + 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vũ Thị Thanh H3, sinh năm 1964, địa chỉ tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • + 01 bản phô tô Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Thị Thanh H1 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C3 cấp.

Bị cáo Nguyễn Bá H không trình bày lời bào chữa, nhất trí với luận tội của đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Bị cáo không khiếu nại, thắc mắc gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá H khai nhận: Trong thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 9/2023, bị cáo đã 02 lần có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để hưởng lợi số tiền 30.000.000 đồng, cụ thể:

Lần 1: Ngày 29/7/2023 tại Văn phòng C2, địa chỉ tổ dân phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo đã có hành vi sử dụng 03 bản trích lục khai tử giả số 56/2022/TLKT ngày 23/3/2022 đối với ông Trần Minh G; số 65/2022/TLKT ngày 05/6/2022 đối với bà Nguyễn Thị N và số 76/TLKT ngày 03/5/2023 đối với ông Trần Minh K để làm thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản.

Lần 2: Ngày 18/9/2023 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thu H2, bị cáo đã có hành vi sử dụng 01 Bản "Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K" giả, để làm thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều ra; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Kết luận giám định; vật chứng thu giữ và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 341 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý phạm tội. Do vậy cần đưa ra xét xử mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T tặng Bằng khen do có thành tích xuất sắc trong công tác di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang năm 2005 (theo Quyết định số 388/QĐ-CT ngày 09/5/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh T); đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm v, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Về hình phạt: Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có khả năng tự cải tạo tại địa phương; đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Đối với hành vi bị cáo mua của người sử dụng tài khoản Zalo "Anh Q" 01 bản Thông báo niêm yết giả về việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 84/TBNY-VPCC ngày 24/7/2023 của Văn phòng C2, địa chỉ tổ dân phố B, phường Ỷ, thành phố T, nhưng chưa sử dụng để nộp cho cá nhân, tổ chức nào nên không xem xét xử lý.

[6] Đối với người sử dụng tài khoản Zalo "Anh Q" đã bán giấy tờ giả cho bị cáo và tài khoản ngân hàng số 14910000219146 đăng ký thông tin "Trần Văn L, trú tại H, T, Đồng Nai" mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 B1, quá trình điều tra không xác định được người thực tế sử dụng các tài khoản này để giao dịch bán giấy tờ giả cho bị cáo nên không có căn cứ xử để lý.

[7] Đối với anh La Văn B là người được bị cáo giao mang 03 bản trích lục khai tử giả và 01 Bản "Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K" giả đến văn phòng C2 Nguyễn Thị Thu H2 nhưng anh B không biết các giấy tờ trên là giả và công chứng viên Nguyễn Thị Thu H2 đã tiếp nhận 03 bản trích lục khai tử giả nhưng không biết 03 bản trích lục khai tử này là giả nên không xem xét xử lý.

[8] Đối với chị Trần Thị Thanh H1 là người thuê và cung cấp các thông tin cho bị cáo để làm các thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản, tuy nhiên chị H1 không biết bị cáo sử dụng các thông tin này để đặt mua các giấy tờ giả để làm thủ tục do vậy không xem xét xử lý.

[9] Đối với Công ty G2 và anh Hoàng Văn T1, anh Lương Ngọc H4 là nhân viên giao hàng khi giao hàng cho bị cáo không biết bên trong là giấy tờ giả nên không xem xét xử lý.

[10] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CM 918853 mang tên Vũ Thị Thanh H3, sinh năm 1964, địa chỉ tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Ngày 23/12/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Trần Thị Thanh H1 nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Galaxy S21 Ultra 5G, số sêri: R3CR607TG7L, IMEI: 352412373859454, màu bạc, loại màn hình cảm ứng, điện thoại đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với các tài liệu tạm giữ của bị cáo là tài liệu giả và tài liệu do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 phát hành hiện không còn giá trị cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án gồm:
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 56/2022/TLKT ngày 23/03/2022 của Ủy ban nhân dân phường P.
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 65/2022/TLKT ngày 05/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường P.
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 76/TLKT ngày 03/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường H.
  • + 01 (một) Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản và thỏa thuận phân chia di sản số 84/TBNY-VPCC đề ngày 24/7/2023 của Văn phòng C2.
  • + 01 (một) Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 02/8/2023 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 (Bản do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 phát hành giao cho H2).
  • - Tịch thu lưu hồ sơ vụ án tài liệu do bà Nguyễn Thị Thu H2 giao nộp có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo gồm:
  • + 01 Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 24/8/2023 của Văn phòng C2 Nguyễn Thị Thu H2 - là giấy giả.
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 56/2022/TLKT ngày 23/03/2022 của Ủy ban nhân dân phường P. (Bản phô tô từ giấy giả)
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 65/2022/TLKT ngày 05/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường P. (Bản phô tô từ giấy giả)
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 76/TLKT ngày 03/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường H. (Bản phô tô từ giấy giả)
  • - Trả lại các tài liệu cho bà Nguyễn Thị Thu H2 các tài liệu không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo:
  • + 01 Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 24/8/2023 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 (Do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 phát hành lưu tại văn phòng)
  • + 01 bản gốc Văn bản từ chối nhận di sản lập ngày 03/8/2023 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thu H2 được Công chứng viên Nguyễn Thị Thu H2 chứng nhận.
  • + 01 (một) bản phô tô Trích lục khai tử số 57/TLKT ngày 12/12/2022 của Ủy ban nhân dân phường H.
  • + 01 (một) bản phô tô Giấy khai sinh số 216 mang tên Trần Thị Thanh H1.
  • + 01 (một) bản phô tô Giấy khai sinh số 67 ngày 15/8/2001, người ký Giấy là Hoàng Văn Q1 - Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân phường H.
  • + 01 (một) bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vũ Thị Thanh H3, sinh năm 1964, địa chỉ tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • + 01 (một) bản phô tô Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Thị Thanh H1 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C3 cấp.

Tình trạng vật chứng thể hiện như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T ngày 01/3/2024.

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án gồm:

  • + 01 (một) Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 02/8/2023 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 (Bản do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 phát hành giao cho H2).
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 56/2022/TLKT ngày 23/03/2022 của Ủy ban nhân dân phường P (là tài liệu giả).
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 65/2022/TLKT ngày 05/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường P (là tài liệu giả).
  • + 01 bản gốc Trích lục khai tử số 76/TLKT ngày 03/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường H (là tài liệu giả).
  • + 01 (một) Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản và thỏa thuận phân chia di sản số 84/TBNY-VPCC đề ngày 24/7/2023 của Văn phòng C2 (là tài liệu giả).
  • + 01 Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 24/8/2023 của Văn phòng C2 Nguyễn Thị Thu H2 (là tài liệu giả).
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 56/2022/TLKT ngày 23/03/2022 của Ủy ban nhân dân phường P (Bản phô tô từ giấy giả).
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 65/2022/TLKT ngày 05/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường P (Bản phô tô từ giấy giả).
  • + 01 bản phô tô Trích lục khai tử số 76/TLKT ngày 03/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường H (Bản phô tô từ giấy giả).
  • - Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H2 các tài liệu sau:
  • + 01 Bản Thông báo niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản của bà Vũ Thị Thanh H3 và ông Trần Minh K đề ngày 24/8/2023 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 (Do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thu H2 phát hành lưu tại văn phòng)
  • + 01 bản gốc Văn bản từ chối nhận di sản lập ngày 03/8/2023 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thu H2 được Công chứng viên Nguyễn Thị Thu H2 chứng nhận.
  • + 01 (một) bản phô tô Trích lục khai tử số 57/TLKT ngày 12/12/2022 của Ủy ban nhân dân phường H.
  • + 01 (một) bản phô tô Giấy khai sinh số 216 mang tên Trần Thị Thanh H1.
  • + 01 (một) bản phô tô Giấy khai sinh số 67 ngày 15/8/2001, người ký Giấy là Hoàng Văn Q1 - Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân phường H.
  • + 01 (một) bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vũ Thị Thanh H3, sinh năm 1964, địa chỉ tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • + 01 (một) bản phô tô Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Thị Thanh H1 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C3 cấp.

4. Căn cứ: Các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Bá H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm b, khoản 2, khoản 4, Điều 341; điểm s, v khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/4/2024).

    Phạt tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

    Giao bị cáo Nguyễn Bá H cho Ủy ban nhân dân xã K, thành phố T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  3. Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  4. - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Galaxy S21 Ultra 5G, số sêri: R3CR607TG7L, IMEI: 352412373859454, màu bạc, loại màn hình cảm ứng.

CÁC THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đinh Công Định

Lý Thúy Hà

Phạm Thị Hương G1

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; NLQ;
  • - VKSND thành phố TQuang;
  • - VKSND tỉnh TQuang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TPTQuang;
  • - Cơ quan THAHS TPTQuang;
  • - UBND xã Kim Phú, TPTQuang;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger